Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Bị can trở thành bị cáo tại thời điểm Thẩm phán chủ tọa ký quyết định đưa vụ án ra xét xử, và giữ tư cách đó qua phiên sơ thẩm, phúc thẩm cho tới khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.
Khoản 1 Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 (hiệu lực từ 01/7/2016), văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026.
Giải nghĩa dễ hiểu
Mốc trở thành bị cáo
Không phải khi nhận cáo trạng, cũng không phải khi bước vào phòng xử. Sau khi Viện kiểm sát chuyển hồ sơ và cáo trạng, Tòa án có 30 ngày (tội ít nghiêm trọng), 45 ngày (nghiêm trọng), 02 tháng (rất nghiêm trọng) hoặc 03 tháng (đặc biệt nghiêm trọng) để chuẩn bị xét xử (Điều 277). Chỉ khi Thẩm phán chủ tọa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị can mới thành bị cáo. Quyết định này phải giao cho bị cáo chậm nhất 10 ngày trước khi mở phiên tòa (Điều 286), và phiên tòa phải mở trong 15 ngày kể từ ngày có quyết định (có thể 30 ngày nếu có lý do bất khả kháng).
Những quyền chỉ bị cáo mới có
- Tham gia phiên tòa; đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người giám định, người định giá, cả Điều tra viên tới phiên tòa.
- Tự hỏi người tham gia phiên tòa nếu chủ tọa đồng ý; tranh luận.
- Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án — không ai được đặt câu hỏi, không bị hạn chế thời gian, chỉ có thể bị nhắc không nói điều không liên quan (Điều 324).
- Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi sửa đổi, bổ sung.
- Kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm.
Bị cáo vẫn giữ quyền không buộc phải khai chống lại chính mình và quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa như khi là bị can.
Nghĩa vụ
Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; vắng mặt không lý do chính đáng thì bị áp giải, bỏ trốn thì bị truy nã (khoản 3 Điều 61). Bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì Tòa tạm đình chỉ vụ án cho tới khi có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi (cụm từ mới sửa bởi Luật 99/2025/QH15).
Phân biệt bị cáo với bị can và người bị kết án
| Tiêu chí | Bị can | Bị cáo | Người bị kết án |
|---|---|---|---|
| Thời điểm | Từ khởi tố bị can | Từ quyết định đưa vụ án ra xét xử | Từ khi bản án kết tội có hiệu lực |
| Cơ quan đang giải quyết | Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát | Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm | Cơ quan thi hành án hình sự |
| Suy đoán vô tội | Có | Có, kể cả sau bản án sơ thẩm còn bị kháng cáo | Không còn |
| Quyền đặc trưng | Đọc hồ sơ khi kết thúc điều tra | Tranh luận, nói lời sau cùng, kháng cáo | Xin giảm án, đặc xá, xóa án tích |
| Ai quyết định tạm giam | Cơ quan điều tra (Viện kiểm sát phê chuẩn) hoặc Viện kiểm sát | Chánh án, Phó Chánh án; Hội đồng xét xử tại phiên tòa | Không còn là tạm giam mà là chấp hành án |
Ví dụ tình huống
Anh Lê Minh Khoa bị truy tố về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS (tài sản 85 triệu đồng, khung 02–07 năm tù). Tòa án nhân dân khu vực thụ lý ngày 02/6/2026; ngày 10/7/2026 Thẩm phán chủ tọa ký quyết định đưa vụ án ra xét xử — từ ngày này anh Khoa là bị cáo. Quyết định được giao cho anh ngày 13/7, phiên tòa mở ngày 24/7 (trong hạn 15 ngày).
Anh Khoa đang tại ngoại. Tòa tuyên phạt 02 năm 6 tháng tù. Vì anh có nơi cư trú rõ ràng, luôn có mặt theo triệu tập, Hội đồng xét xử không bắt tạm giam tại tòa. Anh có 15 ngày, tức tới hết ngày 08/8/2026, để kháng cáo. Nếu anh không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị, bản án có hiệu lực, anh nhận quyết định thi hành án và lúc đó mới bị đưa đi chấp hành hình phạt.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Tòa nào xử sơ thẩm (từ 01/7/2025): Tòa án nhân dân khu vực xử các tội mà mức cao nhất của khung hình phạt đến 20 năm tù, kể cả một phần tội đặc biệt nghiêm trọng; khung có tù chung thân, tử hình hoặc vụ phức tạp, dư luận đặc biệt quan tâm, bị cáo là cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh trở lên thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh xử (Điều 268 sửa đổi). Không còn Tòa án nhân dân cấp huyện.
- Phúc thẩm: bản án Tòa khu vực bị kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh; bản án Tòa cấp tỉnh lên Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao (Điều 344).
- Trả tự do ngay tại tòa cho bị cáo đang bị tạm giam nếu được tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, phạt không phải tù, án treo, hoặc mức tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian đã tạm giam (Điều 328).
- Bị cáo bắt buộc có người bào chữa khi bị truy tố về tội có khung cao nhất 20 năm tù, chung thân, tử hình; khi có nhược điểm về thể chất, tâm thần; hoặc dưới 18 tuổi (Điều 76). Xử mà thiếu người bào chữa trong các trường hợp này thường bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, căn cứ để cấp trên hủy án.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Bị tuyên án sơ thẩm là đã có tội." — Đúng: bản án sơ thẩm còn trong hạn kháng cáo, kháng nghị hoặc đang bị kháng cáo thì chưa có hiệu lực; bị cáo vẫn được suy đoán vô tội.
- Sai: "Nhận cáo trạng là thành bị cáo." — Đúng: cáo trạng do Viện kiểm sát ban hành đối với bị can; chỉ quyết định của Tòa mới làm phát sinh tư cách bị cáo.
- Sai: "Bị cáo tại ngoại bị tuyên tù thì đương nhiên bị còng tay tại tòa." — Đúng: chỉ khi Hội đồng xét xử thấy có căn cứ bị cáo trốn hoặc tiếp tục phạm tội.
- Sai: "Lời sau cùng chỉ là thủ tục." — Đúng: nếu lời sau cùng nêu tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng, Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc hỏi; đây là cơ hội cuối để nêu hoàn cảnh, thái độ ăn năn.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Dùng defendant (hoặc criminal defendant khi cần phân biệt với bị đơn dân sự). Tránh the accused nếu văn bản đã dùng từ này cho bị can; tránh convict hay convicted person vì đó là người bị kết án. "Lời nói sau cùng" có thể dịch defendant's final statement, gần với allocution của Hoa Kỳ nhưng không trùng: allocution ở Mỹ diễn ra sau khi đã tuyên có tội, trước khi tuyên mức án.
Thuật ngữ liên quan
- Bị can — tư cách liền trước, trong giai đoạn điều tra, truy tố
- Cáo trạng — văn bản buộc tội mà Tòa xét xử trong giới hạn của nó
- Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự — nơi bị cáo thực hiện phần lớn quyền
- Hội đồng xét xử — chủ thể quyết định tội và hình phạt
- Tranh luận tại phiên tòa — quyền của bị cáo và người bào chữa
- Kháng cáo — quyền yêu cầu xét xử phúc thẩm
- Bản án có hiệu lực pháp luật — mốc chấm dứt tư cách bị cáo
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Điều 61, 76, 268, 277, 286, 290, 328, 329, 333, 344 — văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026, đang có hiệu lực.
- Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi BLTTHS — hiệu lực từ 01/7/2025 (Điều 268 thẩm quyền Tòa án khu vực, Điều 290, Điều 344).
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi 2017, 2025), Điều 173 dùng trong ví dụ.
Hỏi đáp nhanh
Bị cáo đang tại ngoại, bị tuyên án tù thì có bị bắt ngay tại tòa không?
Nguyên tắc là chỉ bị bắt để chấp hành án khi bản án đã có hiệu lực. Ngoại lệ: Hội đồng xét xử có thể bắt tạm giam ngay tại phiên tòa nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội; thời hạn tạm giam này là 45 ngày kể từ ngày tuyên án (khoản 2, 3 Điều 329 BLTTHS).
Bị cáo vắng mặt ở phiên tòa thì tòa có xử được không?
Vắng mặt vì bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì phải hoãn. Tòa chỉ xử vắng mặt khi bị cáo trốn và truy nã không có kết quả, đang ở nước ngoài không triệu tập được, tự đề nghị xử vắng mặt và được chấp nhận, hoặc vắng mặt không lý do mà không gây trở ngại cho việc xét xử (khoản 2 Điều 290).
Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là bao lâu?
15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Kháng cáo quyết định sơ thẩm là 07 ngày (Điều 333). Xem thêm kháng cáo.
Bị cáo có được tự hỏi nhân chứng tại tòa không?
Được, nếu chủ tọa đồng ý; hoặc đề nghị chủ tọa hỏi thay (điểm i khoản 2 Điều 61). Bị cáo cũng có quyền đề nghị triệu tập người làm chứng, người giám định tới phiên tòa — nên gửi đề nghị bằng văn bản trước ngày xử.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.