Tranh luận tại phiên tòa là phần của phiên tòa bắt đầu sau khi kết thúc việc hỏi, trong đó các bên lần lượt phát biểu quan điểm về chứng cứ, tình tiết và pháp luật áp dụng, rồi đối đáp với nhau. Kết thúc tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Đây là lúc lập luận được trình bày trọn vẹn nhất và cũng là phần mà bản án phải phản hồi.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Luật không định nghĩa bằng một câu mà quy định nội dung và yêu cầu của việc phát biểu khi tranh luận:
Khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.
Điều 261 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (hiệu lực từ 01/7/2016). Tố tụng hình sự: Điều 320–324 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.
Giải nghĩa dễ hiểu
Thứ tự trong vụ án dân sự (Điều 260 BLTTDS)
- Người bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn trình bày, nguyên đơn bổ sung.
- Người bảo vệ quyền lợi của bị đơn tranh luận, đối đáp; bị đơn bổ sung.
- Người bảo vệ quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày; người đó bổ sung.
- Các đương sự đối đáp theo điều khiển của chủ tọa; Hội đồng xét xử có thể yêu cầu tranh luận bổ sung về vấn đề cụ thể.
- Kiểm sát viên (nếu tham gia) phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, người tham gia tố tụng và về việc giải quyết vụ án; Kiểm sát viên không tranh luận với đương sự (Điều 262).
Ai vắng mặt thì chủ tọa công bố lời khai của họ để những người có mặt tranh luận (khoản 3 Điều 260).
Thứ tự trong vụ án hình sự (Điều 320 BLTTHS)
- Kiểm sát viên trình bày luận tội: phân tích chứng cứ buộc tội và gỡ tội, tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề nghị mức hình phạt, bồi thường, xử lý vật chứng (Điều 321). Nếu thấy không có căn cứ kết tội, Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị tuyên không có tội.
- Bị cáo tự bào chữa, người bào chữa trình bày, bị cáo hoặc người đại diện bổ sung.
- Bị hại, đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của họ trình bày.
- Đối đáp: Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến; chủ tọa yêu cầu Kiểm sát viên trả lời những ý kiến chưa được đáp (Điều 322).
- Kết thúc tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng (Điều 324).
Vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại trình bày ngay sau luận tội (khoản 4 Điều 320).
Quyền của người tham gia và giới hạn của chủ tọa
Chủ tọa không được hạn chế thời gian tranh luận, chỉ được cắt ý kiến không liên quan hoặc lặp lại. Hội đồng xét xử phải ghi nhận đầy đủ; không chấp nhận ý kiến nào thì nêu lý do trong bản án (khoản 4 Điều 322 BLTTHS).
Phân biệt phần tranh luận với phần hỏi
| Tiêu chí | Phần hỏi (xét hỏi) | Phần tranh luận |
|---|---|---|
| Mục đích | Làm rõ sự kiện, tình tiết | Đánh giá chứng cứ, lập luận pháp lý, đề xuất cách giải quyết |
| Hình thức | Hỏi và trả lời theo thứ tự chủ tọa điều khiển | Phát biểu quan điểm và đối đáp |
| Ai hỏi trước | Dân sự: các đương sự và người bảo vệ quyền lợi hỏi trước, rồi chủ tọa, Hội thẩm, Kiểm sát viên (Điều 249 BLTTDS). Hình sự: chủ tọa hỏi trước (Điều 307 BLTTHS) | Các bên tự trình bày theo thứ tự luật định |
| Căn cứ (dân sự) | Điều 249–258 BLTTDS | Điều 260–262 BLTTDS |
| Căn cứ (hình sự) | Điều 307–318 BLTTHS | Điều 320–324 BLTTHS |
Ví dụ tình huống
Tình huống 1 (dân sự). Trong vụ chia thừa kế ngôi nhà 2,4 tỷ đồng tại một Tòa án nhân dân khu vực ở Huế, sau phần hỏi, luật sư của nguyên đơn tranh luận rằng di chúc năm 2019 vô hiệu vì người lập không đủ minh mẫn, dựa vào hồ sơ bệnh án đã được công bố tại phiên tòa. Luật sư bị đơn đối đáp: kết luận giám định chữ ký và lời khai hai người làm chứng xác nhận người lập di chúc tỉnh táo. Khi bị đơn bất ngờ nêu một bản di chúc khác lập năm 2021 chưa từng nộp, Hội đồng xét xử quyết định trở lại phần hỏi để xem xét tài liệu này (Điều 263), sau đó mới tiếp tục tranh luận.
Tình huống 2 (hình sự). Kiểm sát viên luận tội bị cáo Hoàng về tội lừa đảo chiếm đoạt 320 triệu đồng, đề nghị 08 năm tù. Người bào chữa lập luận đây là quan hệ vay mượn dân sự, chỉ ra giấy vay có ghi lãi và việc bị cáo đã trả 90 triệu. Kiểm sát viên phải đối đáp trực tiếp vào giấy vay và các khoản đã trả; nếu chỉ "giữ nguyên quan điểm", chủ tọa phải yêu cầu Kiểm sát viên trả lời. Bản án nếu bác quan điểm của người bào chữa phải nêu rõ lý do.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Kiểm sát viên rút truy tố toàn bộ hoặc một phần, hoặc kết luận tội nhẹ hơn, được thực hiện sau khi kết thúc xét hỏi (Điều 319 BLTTHS). Rút toàn bộ thì Hội đồng xét xử vẫn nghị án; nếu thấy việc rút không có căn cứ thì tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị Viện trưởng (khoản 4 Điều 326).
- Trở lại phần hỏi: khi qua tranh luận hoặc qua nghị án thấy còn tình tiết chưa rõ (Điều 263, 265 BLTTDS; Điều 323 BLTTHS).
- Bài bào chữa viết sẵn nên được nộp cho Tòa sau phiên tòa để lưu hồ sơ; người bảo vệ quyền lợi không dự phiên tòa thì được gửi văn bản (khoản 3 Điều 76 BLTTDS).
- Xét xử vắng mặt tất cả đương sự: không có phần tranh luận theo nghĩa đối đáp; chủ tọa công bố tài liệu, Kiểm sát viên phát biểu, rồi nghị án (Điều 238 BLTTDS).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: tranh luận là lúc kể lại toàn bộ sự việc. Đúng: sự việc đã làm rõ ở phần hỏi; tranh luận là đánh giá chứng cứ nào đáng tin, áp dụng điều luật nào, đề nghị gì.
- Sai: trong vụ dân sự, Kiểm sát viên tranh luận như một bên. Đúng: Kiểm sát viên chỉ phát biểu ý kiến sau khi các bên tranh luận xong.
- Sai: chủ tọa ấn định mỗi người nói 10 phút là đúng luật. Đúng: chủ tọa không được hạn chế thời gian, chỉ được cắt phần không liên quan hoặc lặp lại.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
closing arguments hoặc oral arguments cho phần tranh luận; luận tội của Kiểm sát viên là prosecutor's closing statement; bài bào chữa là defense closing argument; đối đáp là rebuttal; lời nói sau cùng của bị cáo là defendant's last word (khác với allocution của Mỹ, chỉ diễn ra trước khi tuyên mức án).
Thuật ngữ liên quan
- Tranh tụng — nguyên tắc mà phần tranh luận là biểu hiện tập trung nhất
- Phiên tòa — trình tự gồm phần hỏi, tranh luận, nghị án
- Nghị án — bước ngay sau khi kết thúc tranh luận
- Người bào chữa — người trình bày lời bào chữa cho bị cáo
- Viện kiểm sát — luận tội trong vụ án hình sự
- Cáo trạng — cơ sở của luận tội
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13: Điều 76, 238, 247, 260–265 — còn hiệu lực, sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15.
- Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13: Điều 319–326 — sửa đổi bởi Luật số 99/2025/QH15.
Hỏi đáp nhanh
Đương sự không có luật sư thì tranh luận thế nào?
Đương sự tự trình bày quan điểm khi đến lượt mình: tóm tắt yêu cầu, chỉ ra chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa ủng hộ mình, nêu điều luật áp dụng và đề nghị cụ thể (khoản 2 Điều 260 BLTTDS). Nên chuẩn bị sẵn một trang ghi chú để không bỏ sót ý.
Trong phần tranh luận có được đưa ra chứng cứ mới không?
Trong vụ án dân sự, phát biểu tranh luận phải căn cứ vào chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa (Điều 261 BLTTDS). Nếu có tình tiết, chứng cứ cần xem xét thêm, Hội đồng xét xử quyết định trở lại phần hỏi rồi mới tranh luận tiếp (Điều 263). Trong vụ án hình sự, bị cáo, người bào chữa được đưa ra chứng cứ, tài liệu để đối đáp (khoản 1 Điều 322 BLTTHS).
Lời nói sau cùng của bị cáo có tác dụng gì?
Đây là cơ hội cuối để bị cáo bày tỏ, xin giảm nhẹ hoặc nêu điều chưa nói. Không ai được đặt câu hỏi, Hội đồng xét xử không được hạn chế thời gian; nếu bị cáo nêu tình tiết mới quan trọng, Hội đồng xét xử phải trở lại phần hỏi (Điều 324 BLTTHS).
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.