Giám định, trong tố tụng gọi đầy đủ là giám định tư pháp, là việc dùng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật để kết luận về chuyên môn những vấn đề mà cơ quan tố tụng cần làm rõ: nguyên nhân chết, tỷ lệ thương tích, chữ ký thật hay giả, chất có phải ma túy, công trình có đúng thiết kế. Kết quả là một bản kết luận giám định, và bản kết luận đó là một nguồn chứng cứ.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kiểm tra, đánh giá, kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của người trưng cầu giám định tư pháp hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định tư pháp.
Khoản 1 Điều 3 Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15 (thông qua ngày 05/12/2025, hiệu lực từ 01/5/2026, thay thế Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13).
Giải nghĩa dễ hiểu
Trưng cầu và yêu cầu
- Trưng cầu giám định: cơ quan, người tiến hành tố tụng ra quyết định bằng văn bản, gửi kèm hồ sơ, đối tượng cần giám định. Luật mới nhấn mạnh người trưng cầu chỉ được hỏi vấn đề chuyên môn, không được đẩy cho người giám định kết luận thay những việc thuộc trách nhiệm của mình (khoản 2 Điều 26).
- Yêu cầu giám định: đương sự, bị hại tự mình yêu cầu, nhưng chỉ sau khi đã đề nghị cơ quan tố tụng trưng cầu mà không được chấp nhận (khoản 3 Điều 3). Trong vụ án hình sự, đương sự không được tự yêu cầu giám định những vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội (Điều 207 BLTTHS).
Sáu trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định trong vụ án hình sự
Điều 206 BLTTHS buộc phải giám định khi cần xác định: tình trạng tâm thần của người bị buộc tội (hoặc của người làm chứng, bị hại khi nghi ngờ khả năng nhận thức); tuổi của bị can, bị cáo, bị hại khi không có giấy tờ chính xác; nguyên nhân chết người; tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe; ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, tiền giả, vàng bạc, đá quý, đồ cổ; mức độ ô nhiễm môi trường.
Thời hạn
- Trường hợp bắt buộc (Điều 208 BLTTHS): tâm thần không quá 03 tháng; nguyên nhân chết, ô nhiễm môi trường không quá 01 tháng; tuổi, thương tích, ma túy, tiền giả… không quá 09 ngày.
- Các trường hợp khác: tối đa 02 tháng, phức tạp 03 tháng, đặc biệt phức tạp 04 tháng, tính từ ngày nhận đủ hồ sơ; được gia hạn nhưng không quá một nửa thời hạn tối đa (Điều 30 Luật Giám định tư pháp 2025).
Bổ sung, giám định lại, Hội đồng
Giám định bổ sung khi kết luận chưa rõ, chưa đủ hoặc phát sinh vấn đề mới. Giám định lại khi nghi ngờ kết luận lần đầu không chính xác, phải do người khác thực hiện. Kết luận lần đầu và lần giám định lại vênh nhau thì lần thứ hai do Hội đồng ít nhất 03 thành viên thực hiện (Điều 32, 33 Luật Giám định tư pháp 2025; Điều 210–212 BLTTHS).
Phân biệt giám định với định giá tài sản và xem xét, thẩm định tại chỗ
| Tiêu chí | Giám định | Định giá tài sản | Xem xét, thẩm định tại chỗ |
|---|---|---|---|
| Trả lời câu hỏi | Đúng sai, nguyên nhân, mức độ về chuyên môn | Tài sản đáng giá bao nhiêu tiền | Hiện trạng thực tế của đất, nhà, tài sản |
| Ai thực hiện | Người, tổ chức giám định tư pháp | Hội đồng định giá hoặc tổ chức thẩm định giá | Thẩm phán, có mặt đại diện chính quyền cấp xã |
| Sản phẩm | Kết luận giám định | Kết quả định giá, chứng thư thẩm định giá | Biên bản xem xét, thẩm định |
| Căn cứ trong BLTTDS | Điều 102, 103 | Điều 104 | Điều 101 |
Ví dụ tình huống
Tối 14/02/2026, anh Tài bị một người quen đánh bằng gậy sắt tại phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, gãy xương cẳng tay. Cơ quan điều tra Công an thành phố trưng cầu Trung tâm Pháp y giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể; theo Điều 208 BLTTHS, kết luận phải có trong 09 ngày. Kết luận ghi 12%. Mức này thuộc khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự (từ 11% đến 30%), là trường hợp chỉ khởi tố khi bị hại yêu cầu.
Người bị buộc tội cho rằng vết gãy có từ trước và đề nghị giám định lại. Cơ quan điều tra phải xem xét trong 07 ngày (Điều 214). Nếu chấp nhận, việc giám định lại phải do người giám định khác làm; nếu lần này ra 9% mà lần đầu ra 12%, việc giám định lại lần thứ hai phải giao cho Hội đồng giám định. Chênh lệch quanh ngưỡng 11% quyết định có tội hay không, nên tranh cãi thường xoáy vào phương pháp giám định và hồ sơ bệnh án gốc.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Kết luận mâu thuẫn mà các cơ quan tố tụng không thống nhất: luật mới đặt bốn tiêu chí để chọn: trình độ người giám định, phương pháp và quy trình, trang thiết bị, tính độc lập khách quan (khoản 4 Điều 35).
- Vụ việc dân sự: quyền tự yêu cầu giám định phải thực hiện trước khi Tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử (khoản 1 Điều 102 BLTTDS). Chứng cứ bị tố cáo giả mạo thì người đưa ra có thể rút; không rút thì Tòa có thể trưng cầu giám định, người giả mạo chịu chi phí và có thể bị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra (Điều 103).
- Chi phí: trong dân sự, người yêu cầu nộp tạm ứng, cuối cùng phân bổ theo kết quả (Điều 160–162 BLTTDS); trong hình sự, cơ quan trưng cầu chi trả (khoản 1 Điều 136 BLTTHS sửa đổi bởi Luật Giám định tư pháp 2025).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: có kết luận giám định là xong, Tòa phải theo. Đúng: kết luận chỉ là chứng cứ khi giám định đúng thủ tục và vẫn bị đánh giá cùng chứng cứ khác (khoản 6 Điều 95 BLTTDS).
- Sai: muốn giám định lại bao nhiêu lần cũng được. Đúng: lần thứ hai phải là Hội đồng; sau đó chỉ còn trường hợp đặc biệt do người đứng đầu ngành Tòa án, Kiểm sát quyết định, và kết luận đó được dùng để giải quyết vụ án.
- Sai: giám định xác định luôn ai có lỗi. Đúng: người giám định chỉ kết luận chuyên môn; lỗi, tội, trách nhiệm bồi thường do cơ quan tố tụng quyết định.
- Sai: tự thuê giám định lúc nào cũng được. Đúng: phải đề nghị cơ quan tố tụng trưng cầu trước và trong vụ dân sự phải làm trước quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
forensic examination hoặc judicial expertise cho giám định tư pháp. Trưng cầu giám định là referral for expert examination; giám định lại là re-examination; giám định bổ sung là supplementary examination; kết luận giám định là expert conclusion. Không dùng appraisal, từ này chỉ việc định giá tài sản.
Thuật ngữ liên quan
- Người giám định — chủ thể thực hiện giám định
- Chứng cứ — kết luận giám định là một nguồn chứng cứ
- Thu thập chứng cứ — trưng cầu giám định là biện pháp thu thập của Tòa
- Giám định pháp y — loại giám định gắn với thương tích, nguyên nhân chết
- Giám định huyết thống — giám định ADN trong vụ việc xác định cha, mẹ, con
- Điều tra — giai đoạn hình sự mà phần lớn việc giám định diễn ra
- Khởi tố vụ án hình sự — kết luận thương tích thường quyết định có khởi tố hay không
Căn cứ pháp lý
- Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15: Điều 3, 26, 30, 32, 33, 35, 40, 43, 44 — hiệu lực từ 01/5/2026.
- Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13: Điều 136, 205–214 — sửa đổi bởi Luật số 99/2025/QH15 và Luật số 105/2025/QH15.
- Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13: Điều 95, 101–104, 160–162 — còn hiệu lực.
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13: Điều 134 — còn hiệu lực, sửa đổi gần nhất năm 2025.
Hỏi đáp nhanh
Bị đánh có thương tích thì có bắt buộc phải đi giám định không?
Trong vụ án hình sự, khi cần xác định tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe thì cơ quan tố tụng bắt buộc phải trưng cầu giám định (khoản 4 Điều 206 BLTTHS). Tỷ lệ tổn thương là căn cứ chính để xác định có tội cố ý gây thương tích hay không và thuộc khung nào, nên bị hại nên hợp tác đi giám định đúng hẹn.
Không đồng ý với kết luận giám định thì làm gì?
Gửi văn bản trình bày ý kiến và đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại. Trong vụ án hình sự, cơ quan tố tụng phải xem xét trong 07 ngày; không chấp nhận thì trả lời bằng văn bản nêu lý do (Điều 214 BLTTHS). Trong vụ án dân sự, đề nghị gửi Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử (Điều 102, 257 BLTTDS).
Chi phí giám định trong vụ án dân sự ai trả?
Người yêu cầu nộp tạm ứng. Cuối cùng, bên có yêu cầu bị kết luận giám định chứng minh là không có căn cứ phải chịu; nếu yêu cầu có căn cứ thì bên đã phản đối phải chịu (Điều 160, 161 BLTTDS). Trong vụ án hình sự, cơ quan đã trưng cầu chi trả.
Giám định lại được mấy lần?
Lần giám định lại thứ nhất do người giám định khác thực hiện. Nếu kết luận lần đầu và lần giám định lại khác nhau, có thể giám định lại lần thứ hai bằng Hội đồng giám định. Sau đó chỉ còn giám định lại trong trường hợp đặc biệt do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định (Điều 211, 212 BLTTHS).
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.