Truy tố là việc Viện kiểm sát, sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra, quyết định đưa bị can ra trước Tòa án để xét xử. Từ này vừa chỉ một giai đoạn tố tụng (giữa điều tra và xét xử), vừa chỉ quyết định buộc tội chính thức được thể hiện bằng bản cáo trạng.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
BLTTHS không định nghĩa riêng; quyết định truy tố được xác định ở hai điều:
Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định việc truy tố là Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án.
Khoản 1 Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, sửa đổi bởi khoản 28 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2025); hình thức truy tố bằng bản cáo trạng tại khoản 1 Điều 243.
Giải nghĩa dễ hiểu
Viện kiểm sát nào truy tố (sau cải cách 2025)
Không còn Viện kiểm sát cấp huyện và cấp cao. Viện kiểm sát nhân dân khu vực truy tố những vụ thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực (tội có mức cao nhất của khung đến 20 năm tù); Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh truy tố vụ thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Vụ do cấp trên thực hành quyền công tố thì cấp trên ra cáo trạng, rồi phân công cấp dưới (cùng cấp với Tòa xét xử) giữ quyền công tố tại phiên tòa; cấp trên phải báo cho cấp dưới chậm nhất 02 tháng trước khi kết thúc điều tra để cử Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ.
Thời hạn quyết định (Điều 240)
| Loại tội | Thời hạn | Gia hạn tối đa | Tổng tối đa |
|---|---|---|---|
| Ít nghiêm trọng | 20 ngày | 10 ngày | 30 ngày |
| Nghiêm trọng | 20 ngày | 10 ngày | 30 ngày |
| Rất nghiêm trọng | 30 ngày | 15 ngày | 45 ngày |
| Đặc biệt nghiêm trọng | 30 ngày | 30 ngày | 60 ngày |
Tính từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra. Trong thời hạn đó Viện kiểm sát ra một trong ba loại quyết định: truy tố; trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án (hoặc đối với từng bị can). Quyết định phải gửi ngay Viện kiểm sát cấp trên, nơi có quyền rút, đình chỉ, hủy nếu trái pháp luật.
Bốn căn cứ trả hồ sơ điều tra bổ sung (Điều 245)
- Thiếu chứng cứ chứng minh một vấn đề phải chứng minh (Điều 85) mà Viện kiểm sát không tự bổ sung được.
- Có căn cứ khởi tố bị can về tội phạm khác.
- Có đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan chưa bị khởi tố.
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Phân biệt truy tố với khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự
| Tiêu chí | Truy tố | Khởi tố bị can | Truy cứu trách nhiệm hình sự |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Một giai đoạn và một quyết định cụ thể | Một quyết định cụ thể | Khái niệm bao trùm cả quá trình buộc một người chịu trách nhiệm hình sự |
| Chủ thể | Viện kiểm sát | Cơ quan điều tra (Viện kiểm sát phê chuẩn) | Tất cả cơ quan tố tụng |
| Thời điểm | Sau kết thúc điều tra | Trong điều tra | Từ khởi tố đến bản án |
| Văn bản | Cáo trạng (hoặc quyết định truy tố trong thủ tục rút gọn) | Quyết định khởi tố bị can | Không có văn bản riêng |
Ví dụ tình huống
Ngày 02/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nhận hồ sơ vụ tham ô tài sản 800 triệu đồng tại một công ty nhà nước, bị can Hà Thị Diệp (khoản 3 Điều 353 BLHS, khung 15–20 năm tù, tội đặc biệt nghiêm trọng). Do hồ sơ hơn 4.000 bút lục, Viện trưởng gia hạn thêm 30 ngày. Ngày 20/4/2026, Viện kiểm sát trả hồ sơ lần một vì chưa giám định chữ ký trên 12 phiếu chi. Cơ quan điều tra bổ sung trong 02 tháng; ngày 22/6 hồ sơ quay lại.
Ngày 15/7/2026, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh ra cáo trạng. Vì khung cao nhất là 20 năm tù, vụ án thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân khu vực; cáo trạng do Viện kiểm sát cấp tỉnh ban hành rồi phân công Viện kiểm sát nhân dân khu vực thực hành quyền công tố tại phiên tòa (khoản 1 Điều 239). Nếu vụ có tình tiết phức tạp, dư luận đặc biệt quan tâm, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 268.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Đình chỉ, không truy tố (Điều 248): khi có căn cứ ở khoản 2 Điều 155, Điều 157 BLTTHS, Điều 16 hoặc Điều 29 BLHS, hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo Luật Tư pháp người chưa thành niên (từ 01/01/2026).
- Truy tố vắng mặt (từ 01/7/2025): khi bị can trốn và truy nã không có kết quả, hoặc ở nước ngoài không triệu tập được, nếu đã bảo đảm quyền bào chữa; cáo trạng niêm yết nếu không giao được.
- Chuyển vụ án không thuộc thẩm quyền: Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển; chuyển ra ngoài tỉnh do Viện kiểm sát cấp tỉnh quyết định; thời hạn truy tố tính lại từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền nhận hồ sơ.
- Thủ tục rút gọn: thời hạn truy tố chỉ 05 ngày, truy tố bằng quyết định truy tố (Điều 461).
- Nhập, tách vụ án trong giai đoạn truy tố theo Điều 242.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: dùng "truy tố" và "khởi tố" thay cho nhau ("bị truy tố" khi mới bị công an khởi tố). — Đúng: khởi tố ở đầu điều tra, do Cơ quan điều tra; truy tố sau điều tra, do Viện kiểm sát.
- Sai: "Viện kiểm sát trả hồ sơ bao nhiêu lần cũng được." — Đúng: tối đa hai lần trong giai đoạn truy tố.
- Sai: "Bị truy tố khung nào thì Tòa phải xử khung đó." — Đúng: Tòa có thể xử khoản khác, tội nhẹ hơn; muốn xử nặng hơn phải trả hồ sơ cho Viện kiểm sát truy tố lại.
- Sai: "Viện kiểm sát tỉnh truy tố thì Tòa tỉnh xử." — Đúng: thẩm quyền truy tố đi theo thẩm quyền xét xử; vụ do Viện kiểm sát cấp tỉnh thực hành quyền công tố vẫn có thể do Tòa khu vực xử.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Prosecution (giai đoạn) và indictment hoặc decision to prosecute (quyết định). Quyết định truy tố bị can trước Tòa án có thể dịch to indict the accused before the court. Trả hồ sơ điều tra bổ sung: return of the case file for supplementary investigation. Lưu ý "prosecution" trong tiếng Anh còn chỉ bên công tố nói chung; văn bản song ngữ nên dùng the procuracy cho Viện kiểm sát để tránh nhầm với cơ quan công tố kiểu Anh–Mỹ không có chức năng kiểm sát.
Thuật ngữ liên quan
- Cáo trạng — văn bản thể hiện quyết định truy tố
- Viện kiểm sát — cơ quan duy nhất có quyền truy tố
- Kết luận điều tra — đầu vào của giai đoạn truy tố
- Đình chỉ điều tra — kết cục tương tự ở giai đoạn trước
- Miễn trách nhiệm hình sự — căn cứ để không truy tố
- Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự — giai đoạn kế tiếp
- Truy nã — điều kiện để truy tố vắng mặt khi không có kết quả
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Điều 174, 236–248, 461 — văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026, đang có hiệu lực.
- Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi BLTTHS, khoản 28, 29 Điều 1 — hiệu lực từ 01/7/2025.
- Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 — hiệu lực từ 01/01/2026.
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi 2017, 2025), Điều 16, 29; Điều 353 dùng trong ví dụ.
Hỏi đáp nhanh
Viện kiểm sát trả hồ sơ cho công an điều tra bổ sung mấy lần?
Tối đa hai lần trong giai đoạn truy tố; mỗi lần thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng. Ở giai đoạn xét xử, Thẩm phán chủ tọa được trả một lần và Hội đồng xét xử được trả một lần, mỗi lần không quá 01 tháng (khoản 2 Điều 174 BLTTHS).
Bồi thường xong cho bị hại thì Viện kiểm sát có đình chỉ, không truy tố không?
Chỉ khi thuộc căn cứ luật định: bị hại rút yêu cầu với 9 tội khởi tố theo yêu cầu; các căn cứ ở Điều 157 BLTTHS; tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16 BLHS); hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 BLHS — trong đó có trường hợp tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, người phạm tội đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và được bị hại tự nguyện hòa giải, đề nghị miễn (khoản 3 Điều 29).
Bị can có được gặp Kiểm sát viên để trình bày trước khi bị truy tố không?
Bị can, người bào chữa có quyền gửi văn bản trình bày, đưa chứng cứ, đề nghị Viện kiểm sát triệu tập để hỏi cung lại. Kiểm sát viên hỏi cung khi bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ việc điều tra vi phạm pháp luật (khoản 4 Điều 183).
Đang bị tạm giam mà hết thời hạn truy tố thì sao?
Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố không được vượt thời hạn quyết định truy tố (Điều 241). Hết hạn mà không có quyết định tạm giam mới hợp lệ thì phải trả tự do; Viện kiểm sát phải báo Tòa án trước khi hết hạn tạm giam 07 ngày khi chuyển hồ sơ (Điều 244).
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.