Kết luận điều tra là văn bản tố tụng mà Cơ quan điều tra (hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) phải ban hành khi kết thúc điều tra, trong đó tổng hợp diễn biến vụ án, chứng cứ đã thu thập và đề xuất hướng giải quyết. Có hai loại: kết luận đề nghị truy tố và kết luận kèm quyết định đình chỉ điều tra.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
1. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra.
2. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.
Khoản 1, 2 Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 (hiệu lực từ 01/7/2016); Điều 233 và Điều 234 sửa đổi bởi Luật số 99/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2025).
Giải nghĩa dễ hiểu
Thời điểm ra kết luận
Kết luận điều tra là "dấu chấm hết" của giai đoạn điều tra, phải nằm trong thời hạn điều tra: 02 tháng (ít nghiêm trọng), 03 tháng (nghiêm trọng), 04 tháng (rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) cộng các lần gia hạn theo Điều 172. Hết thời hạn mà không chứng minh được bị can phạm tội thì phải kết luận theo hướng đình chỉ.
Kết luận đề nghị truy tố phải có gì (Điều 233)
- Diễn biến hành vi phạm tội; chứng cứ xác định hành vi của từng bị can; thủ đoạn, động cơ, mục đích; tính chất, mức độ thiệt hại.
- Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng.
- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đặc điểm nhân thân của bị can; nguyên nhân, điều kiện phạm tội.
- Lý do và căn cứ đề nghị truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều Bộ luật Hình sự áp dụng; ý kiến đề xuất giải quyết.
- Ngày tháng, họ tên, chức vụ, chữ ký người ra kết luận.
Kết luận kèm đình chỉ điều tra (Điều 234)
Ghi diễn biến sự việc, quá trình điều tra, lý do và căn cứ đình chỉ. Quyết định đình chỉ kèm theo phải nêu việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ và xử lý vật chứng.
Giao, gửi trong 02 ngày
Trong 02 ngày kể từ ngày ra kết luận, Cơ quan điều tra phải giao kết luận cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền; giao cho bị can hoặc người đại diện; gửi người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ (khoản 4 Điều 232). Viện kiểm sát chưa nhận hồ sơ nếu kết luận chưa được giao cho bị can hoặc hồ sơ, vật chứng không khớp bảng kê (Điều 238).
Điểm mới 2025: kết luận khi bị can vắng mặt
Cơ quan điều tra được kết luận đề nghị truy tố khi đã đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa, ngay cả khi bị can bỏ trốn mà truy nã không có kết quả hoặc đang ở nước ngoài không thể triệu tập. Không giao được thì phải niêm yết kết luận trong 02 ngày (khoản 2, 3 Điều 233). Quy định này mở đường cho việc truy tố, xét xử vắng mặt, thay vì tạm đình chỉ kéo dài.
Phân biệt kết luận điều tra với cáo trạng
| Tiêu chí | Kết luận điều tra | Cáo trạng |
|---|---|---|
| Cơ quan ban hành | Cơ quan điều tra | Viện kiểm sát |
| Giai đoạn | Kết thúc điều tra | Giai đoạn truy tố |
| Bản chất | Đề xuất truy tố hoặc đình chỉ | Quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án |
| Hệ quả | Chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát | Giới hạn phạm vi xét xử của Tòa án (Điều 298) |
| Hạn giao cho bị can | 02 ngày | 03 ngày, vụ phức tạp kéo dài tối đa thêm 10 ngày |
Ví dụ tình huống
Ngày 10/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai khởi tố vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản liên quan một sàn "đầu tư vàng" trực tuyến, khởi tố ba bị can: Tạ Minh Hào, Lê Thị Bích, Vương Đức Long. Thời hạn điều tra tội đặc biệt nghiêm trọng là 04 tháng, đã gia hạn một lần đến 10/11/2026. Long trốn ra nước ngoài từ tháng 5, có quyết định truy nã nhưng không có kết quả.
Ngày 25/10/2026, Cơ quan điều tra ban hành kết luận đề nghị truy tố cả ba bị can theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, nêu rõ số tiền mỗi người hưởng lợi, 312 bị hại và việc phong tỏa 14 tài khoản. Kết luận giao cho Hào, Bích tại trại tạm giam ngày 26/10; với Long, do không giao được nên niêm yết ngày 27/10 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường nơi Long cư trú cuối cùng (thời gian niêm yết ít nhất 15 ngày theo Điều 140). Hồ sơ chuyển Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ngày 27/10; Viện kiểm sát có 30 ngày, gia hạn được thêm tối đa 30 ngày, để quyết định truy tố. Luật sư của Bích nộp văn bản đề nghị Viện kiểm sát xem lại vai trò của bà — chỉ là nhân viên chăm sóc khách hàng nhận lương cố định — vì kết luận xếp bà là đồng phạm giúp sức.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Trả hồ sơ điều tra bổ sung: Viện kiểm sát trả khi thiếu chứng cứ chứng minh các vấn đề ở Điều 85, có căn cứ khởi tố tội khác, có đồng phạm chưa khởi tố hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục (Điều 245). Điều tra xong phải có kết luận điều tra bổ sung; kết quả làm thay đổi cơ bản thì ra kết luận mới thay thế.
- Quyền tiếp cận hồ sơ: từ khi kết thúc điều tra, bị can được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu số hóa liên quan việc buộc tội, gỡ tội nếu có yêu cầu (điểm i khoản 2 Điều 60); người bào chữa được sao chụp hồ sơ.
- Vụ nhiều bị can: có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can trong cùng kết luận, các bị can khác vẫn đề nghị truy tố.
- Kết luận đình chỉ: Viện kiểm sát có 15 ngày xem xét; không có căn cứ thì hủy và yêu cầu phục hồi điều tra, thấy đủ căn cứ thì tự ra quyết định truy tố (khoản 3 Điều 230).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Kết luận điều tra là kết luận có tội." — Đúng: chỉ Tòa án mới tuyên một người có tội; kết luận điều tra là đề xuất của cơ quan điều tra.
- Sai: "Kết luận xong thì hồ sơ đóng, không bổ sung chứng cứ được nữa." — Đúng: bị can, luật sư vẫn nộp chứng cứ cho Viện kiểm sát, Tòa án; Viện kiểm sát có thể tự điều tra bổ sung hoặc trả hồ sơ.
- Sai: "Bị can bỏ trốn thì vụ án phải dừng." — Đúng: từ 01/7/2025 vẫn có thể kết luận đề nghị truy tố khi truy nã không có kết quả.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Có thể dịch investigation conclusion hoặc concluding investigation report; kết luận đề nghị truy tố là investigation conclusion recommending prosecution. Không dịch là indictment — đó là cáo trạng của Viện kiểm sát. Ở hệ thông luật, cảnh sát chỉ chuyển case file cho công tố, không có văn bản kết luận mang tính tố tụng như ở Việt Nam, nên khi dịch cần chú thích.
Thuật ngữ liên quan
- Điều tra — giai đoạn mà kết luận điều tra khép lại
- Cáo trạng — văn bản của Viện kiểm sát sau kết luận điều tra
- Truy tố — giai đoạn kế tiếp
- Đình chỉ điều tra — hướng kết thúc thứ hai
- Cơ quan điều tra — chủ thể ban hành kết luận
- Truy nã — điều kiện để kết luận vắng mặt bị can
- Người bào chữa — được nhận kết luận và sao chụp hồ sơ
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Điều 60, 172, 230, 232–234, 238, 240, 245 — văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026, đang có hiệu lực.
- Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi BLTTHS (Điều 233, 234, 240) — hiệu lực từ 01/7/2025.
Hỏi đáp nhanh
Có được khiếu nại bản kết luận điều tra không?
Bản kết luận điều tra là văn bản đề xuất, chưa phải quyết định cuối cùng; điều quan trọng là gửi ý kiến bằng văn bản tới Viện kiểm sát đang xem xét truy tố, chỉ ra chứng cứ còn thiếu, tình tiết bị bỏ sót. Các quyết định, hành vi tố tụng sai trong quá trình điều tra (thu giữ, khám xét, áp dụng biện pháp ngăn chặn…) vẫn khiếu nại được theo Chương XXXIII BLTTHS.
Người bị hại có được nhận bản kết luận điều tra không?
Luật buộc Cơ quan điều tra giao kết luận cho bị can và gửi người bào chữa; bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ được thông báo (khoản 4 Điều 232). Sau khi kết thúc điều tra, luật sư bảo vệ bị hại được đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu liên quan trong hồ sơ (Điều 84).
Sau kết luận điều tra bao lâu thì có cáo trạng?
Viện kiểm sát có 20 ngày (tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng) hoặc 30 ngày (tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) kể từ ngày nhận hồ sơ để quyết định truy tố, trả hồ sơ hoặc đình chỉ; được gia hạn thêm 10, 15 hoặc 30 ngày tùy loại tội (Điều 240). Cáo trạng phải giao cho bị can trong 03 ngày kể từ khi ra.
Kết luận điều tra ghi tội danh nặng thì tòa có phải xử theo không?
Không. Tòa chỉ xét xử trong phạm vi Viện kiểm sát truy tố (Điều 298), và Viện kiểm sát cũng không bị ràng buộc bởi đề nghị của Cơ quan điều tra. Tội danh trong kết luận điều tra chỉ là đề xuất.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.