Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi mang tính tình dục, bằng cử chỉ, lời nói hay hình ảnh, của bất kỳ ai nhắm vào người khác trong môi trường công việc mà người đó không mong muốn, không chấp nhận. Đây là hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động; người sử dụng lao động có nghĩa vụ đưa quy định phòng chống vào nội quy và xử lý khi có tố cáo.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
9. Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận. Nơi làm việc là bất kỳ nơi nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động.
Khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 (hiệu lực từ 01/01/2021). Cấm tại khoản 3 Điều 8; chi tiết tại Điều 84–86 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
Giải nghĩa dễ hiểu
Hai dạng
- Trao đổi: đề nghị, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi quan hệ tình dục lấy lợi ích công việc — tăng lương, ký hợp đồng, duyệt chỉ tiêu, giữ chỗ làm.
- Tạo môi trường khó chịu: không nhằm trao đổi gì, nhưng khiến nơi làm việc trở nên bất an, gây tổn hại thể chất, tinh thần, hiệu quả công việc (khoản 1 Điều 84 Nghị định 145/2020).
Ba hình thức
- Thể chất: đụng chạm, tác động vào cơ thể, cử chỉ mang tính tình dục.
- Lời nói: trực tiếp, qua điện thoại, qua tin nhắn, mạng xã hội có nội dung hoặc ngụ ý tình dục.
- Phi lời nói: ngôn ngữ cơ thể; trưng bày, gửi hình ảnh, tài liệu về tình dục, kể cả qua phương tiện điện tử.
“Nơi làm việc” rộng hơn văn phòng
Gồm cả hội thảo, tập huấn, chuyến công tác, bữa ăn, hoạt động xã hội liên quan công việc, cuộc gọi, nhóm chat công việc, xe đưa đón và nơi ở do người sử dụng lao động bố trí (khoản 3 Điều 84). Yếu tố quyết định là sự không mong muốn, không chấp nhận của người bị nhắm tới, không phải ý định “đùa vui” của người làm.
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động
Quy định phòng chống trong nội quy hoặc phụ lục nội quy, gồm: lệnh cấm; mô tả hành vi cụ thể phù hợp ngành nghề; trình tự, thời hạn xử lý nội bộ và khiếu nại, tố cáo; hình thức kỷ luật với người quấy rối và với người tố cáo sai sự thật; bồi thường cho nạn nhân (Điều 85). Xử lý phải nhanh chóng và bảo mật cho cả nạn nhân lẫn người bị tố cáo.
Phân biệt quấy rối tình dục tại nơi làm việc với tội phạm xâm phạm tình dục
| Tiêu chí | Quấy rối tình dục (pháp luật lao động) | Tội phạm về tình dục (Bộ luật Hình sự) |
|---|---|---|
| Phạm vi | Rộng: cả lời nói, tin nhắn, hình ảnh | Hẹp: hành vi đủ cấu thành như hiếp dâm (Điều 141), cưỡng dâm (Điều 143), dâm ô người dưới 16 tuổi (Điều 146) |
| Ai xử lý | Người sử dụng lao động, thanh tra lao động | Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án |
| Chế tài | Kỷ luật đến sa thải, bồi thường dân sự | Hình phạt tù |
| Chứng minh | Người sử dụng lao động chứng minh lỗi khi kỷ luật | Cơ quan tố tụng chứng minh tội phạm |
| Khi chạy song song | Nếu cơ quan có thẩm quyền đang điều tra, xác minh hành vi, công ty phải chờ kết luận mới kỷ luật; thời hiệu được kéo dài (điểm c khoản 4 Điều 122, khoản 2 Điều 123) | Kết luận điều tra, bản án là chứng cứ mạnh cho việc kỷ luật |
Ví dụ tình huống
Chị Đặng Minh Thư, nhân viên kinh doanh một công ty phân phối tại TP. Cần Thơ, từ tháng 5/2026 liên tục nhận tin nhắn lúc nửa đêm từ trưởng phòng Trịnh Văn Quân, kèm lời gợi ý “đi ăn riêng thì KPI quý này dễ duyệt”. Đây là dạng trao đổi, hình thức lời nói qua phương tiện điện tử — vẫn tính là tại nơi làm việc dù gửi ngoài giờ.
Ngày 10/7/2026 chị nộp tố cáo kèm ảnh chụp tin nhắn theo kênh nội quy quy định. Công ty phải kịp thời ngăn chặn, xác minh và bảo mật (Điều 86 Nghị định 145/2020); cách làm phổ biến là tạm tách hai người khỏi quan hệ quản lý trực tiếp trong lúc xác minh. Nội quy của công ty có quy định quấy rối là hành vi bị sa thải, nên công ty có căn cứ sa thải ông Quân theo khoản 2 Điều 125, trong thời hiệu 06 tháng tính từ ngày xảy ra hành vi. Nếu công ty im lặng, chị được nghỉ việc ngay không cần báo trước (điểm d khoản 2 Điều 35), vẫn hưởng trợ cấp thôi việc nếu đủ điều kiện, và có quyền khiếu nại tới Sở Nội vụ hoặc khởi kiện đòi bồi thường tổn thất tinh thần.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Không có quy định trong nội quy thì công ty mất căn cứ sa thải người quấy rối; chỉ còn cách xử lý theo hình thức nhẹ hơn nếu nội quy có hành vi tương ứng. Thiếu quy định phòng chống còn có thể bị xử phạt hành chính.
- Người tố cáo sai sự thật có thể bị kỷ luật nếu nội quy quy định (điểm d khoản 1 Điều 85) — điều khoản này nhằm chống lạm dụng, không được dùng để đe dọa người tố cáo thật.
- Tổ chức đại diện người lao động có trách nhiệm tư vấn, đại diện cho cả người bị quấy rối lẫn người bị tố cáo (khoản 3 Điều 86).
- Hành vi nghiêm trọng như sờ mó, ép buộc quan hệ có thể vừa bị kỷ luật vừa bị xử lý hình sự hoặc xử phạt về hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm; nạn nhân nên báo công an song song với tố cáo nội bộ.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: “Phải có đụng chạm mới là quấy rối.” — Đúng: lời nói, tin nhắn, hình ảnh gửi qua mạng đều là hình thức được luật liệt kê.
- Sai: “Chỉ cấp trên với cấp dưới.” — Đúng: “bất kỳ người nào”: đồng nghiệp ngang cấp, cấp dưới với cấp trên, khách hàng, đối tác.
- Sai: “Liên hoan ngoài giờ ở quán thì không phải nơi làm việc.” — Đúng: bữa ăn, hoạt động liên quan công việc được tính là nơi làm việc.
- Sai: “Nạn nhân chỉ là phụ nữ.” — Đúng: luật trung tính về giới; nam giới cũng được bảo vệ như nhau.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Dùng sexual harassment in the workplace. Hai dạng tương ứng với cách phân loại phổ biến trong luật Mỹ: quid pro quo harassment (trao đổi) và hostile work environment (môi trường thù địch). Văn kiện ILO dùng khái niệm rộng hơn: violence and harassment in the world of work. Tránh dịch là sexual assault — từ này chỉ hành vi tấn công tình dục, thuộc phạm vi hình sự.
Thuật ngữ liên quan
- Nội quy lao động — nơi bắt buộc phải có quy định phòng chống.
- Sa thải — hình thức áp dụng với người quấy rối khi nội quy quy định.
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — nạn nhân được nghỉ không cần báo trước.
- Lao động nữ — nhóm thường bị nhắm tới nhiều nhất.
- Quyền nhân thân — danh dự, nhân phẩm là quyền bị xâm phạm.
- Tố cáo — cách báo hành vi vi phạm tới người có thẩm quyền.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, khoản 9 Điều 3, Điều 6, 8, 35, 118, 125 — còn hiệu lực (hợp nhất 18/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026).
- Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Điều 69, 84–86 — còn hiệu lực.
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, Điều 592 — bồi thường khi danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm.
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi 2017, 2025), Điều 141, 143, 146.
- Nghị định 283/2026/NĐ-CP — xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, áp dụng từ 10/9/2026.
Hỏi đáp nhanh
Bị khách hàng của công ty quấy rối thì công ty có trách nhiệm không?
Có. Định nghĩa dùng chữ “bất kỳ người nào”, không giới hạn ở đồng nghiệp. Người sử dụng lao động có nghĩa vụ xây dựng và thực hiện giải pháp phòng, chống quấy rối (điểm d khoản 2 Điều 6 BLLĐ) và phải kịp thời ngăn chặn khi có khiếu nại (Điều 86 Nghị định 145/2020/NĐ-CP), ví dụ đổi người tiếp khách, ngừng giao dịch, báo công an.
Chỉ có tin nhắn, không có nhân chứng thì có tố cáo được không?
Được. Quấy rối bằng lời nói qua điện thoại, phương tiện điện tử là một dạng được Nghị định 145/2020 liệt kê. Ảnh chụp màn hình có hiện tài khoản, thời gian, kèm bản gốc tin nhắn còn trên máy là chứng cứ quan trọng; nên sao lưu sớm trước khi người gửi thu hồi.
Nạn nhân được đòi bồi thường bao nhiêu?
Ngoài chi phí điều trị, thu nhập bị mất, người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm được bồi thường tổn thất tinh thần tối đa 10 lần lương cơ sở (Điều 592 Bộ luật Dân sự), tức tối đa 25.300.000 đồng theo mức 2.530.000 đồng từ 01/7/2026. Nội quy có thể quy định thêm khoản bồi thường cho nạn nhân (điểm đ khoản 1 Điều 85 Nghị định 145/2020).
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.