Trợ cấp thôi việc là khoản tiền người sử dụng lao động phải trả cho người lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt trong các trường hợp luật định, nếu người đó đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng. Mức là nửa tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc, nhưng chỉ tính phần thời gian chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp và chưa từng được trả trợ cấp.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.
Khoản 1–3 Điều 46 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 (hiệu lực từ 01/01/2021; không bị sửa đổi đến 10/2026). Chi tiết tại Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
Giải nghĩa dễ hiểu
Ba câu hỏi để biết có được hay không
- Chấm dứt vì lý do gì? Được: hết hạn, hoàn thành công việc, thỏa thuận, bị kết án tù, chết hoặc mất tích, doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, đơn phương chấm dứt đúng luật của bất kỳ bên nào. Không được: sa thải, đơn phương trái luật của người lao động, tự ý bỏ việc 05 ngày liên tục, thử việc không đạt, bị trục xuất, giấy phép lao động hết hạn, và cho thôi việc vì cơ cấu, kinh tế (trường hợp này hưởng trợ cấp mất việc làm thay thế).
- Đã làm thường xuyên đủ 12 tháng chưa? Tính cả thời gian thử việc, thời gian được cử đi học, nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ điều trị tai nạn lao động mà được công ty trả lương, nghỉ lễ, phép năm, việc riêng có lương, thời gian bị tạm đình chỉ công việc… theo Điều 8 Nghị định 145/2020.
- Đã đủ điều kiện hưởng lương hưu chưa? Đủ tuổi và đủ năm đóng thì không có trợ cấp thôi việc.
Công thức
Trợ cấp = 1/2 × tiền lương bình quân 06 tháng liền kề theo hợp đồng × số năm tính trợ cấp.
- Số năm tính trợ cấp = tổng thời gian làm việc thực tế − thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp − thời gian đã được trả trợ cấp trước đó.
- "Đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp" gồm cả thời gian người lao động không thuộc diện phải đóng nhưng đã được công ty trả kèm lương khoản tiền tương đương mức đóng (Điều 8 khoản 3 điểm b Nghị định 145/2020).
- Tháng lẻ: từ 01 đến đủ 06 tháng tính là 1/2 năm; trên 06 tháng tính là 01 năm (Điều 8 khoản 3 điểm c Nghị định 145/2020).
- Tiền lương là lương theo hợp đồng: mức lương theo công việc, phụ cấp lương, khoản bổ sung xác định được — không phải lương đóng bảo hiểm nếu hai con số khác nhau.
- Bảo hiểm thất nghiệp chỉ bắt đầu thu từ 01/01/2009, nên thời gian làm việc trước mốc này luôn còn nằm trong phần tính trợ cấp.
Phân biệt trợ cấp thôi việc với trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp
| Tiêu chí | Trợ cấp thôi việc | Trợ cấp mất việc làm | Trợ cấp thất nghiệp |
|---|---|---|---|
| Ai trả | Người sử dụng lao động | Người sử dụng lao động | Quỹ bảo hiểm thất nghiệp |
| Khi nào | Đa số trường hợp chấm dứt (Điều 46) | Cho thôi việc vì cơ cấu, công nghệ, kinh tế, sáp nhập (Điều 47) | Mất việc mà đã đóng đủ 12 tháng trong 24 tháng |
| Mức | 1/2 tháng lương mỗi năm | 01 tháng lương mỗi năm, tối thiểu 02 tháng | 60% bình quân lương đóng, tối đa 05 lần lương tối thiểu vùng |
| Thời gian tính | Phần chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp | Phần chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp | Phần đã đóng bảo hiểm thất nghiệp |
| Trả một lần hay hằng tháng | Một lần, trong 14 ngày làm việc | Một lần, trong 14 ngày làm việc (tối đa 30 ngày) | Hằng tháng, 3–12 tháng |
Ví dụ tình huống
Bà Hoàng Thị Lan làm kế toán cho một công ty may ở phường Thủ Dầu Một, TP. Hồ Chí Minh từ 01/02/2005, ký thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ngày 30/9/2026, lúc 55 tuổi (chưa đủ tuổi nghỉ hưu 57 của năm 2026). Công ty đóng bảo hiểm thất nghiệp cho bà từ 01/2009 đến 09/2026. Lương theo hợp đồng sáu tháng cuối đều là 14.000.000 đồng.
- Thời gian làm việc thực tế trước khi có bảo hiểm thất nghiệp: 01/02/2005 – 31/12/2008 = 03 năm 11 tháng.
- Tháng lẻ 11 tháng (trên 06 tháng) được tính tròn 01 năm → 04 năm.
- Trợ cấp thôi việc = 14.000.000 × 1/2 × 4 = 28.000.000 đồng, công ty trả chậm nhất 14 ngày làm việc sau 30/9/2026.
- Phần từ 2009 đến 2026 bà nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại tổ chức dịch vụ việc làm công trong 03 tháng; đóng trên 144 tháng nên được hưởng mức tối đa 12 tháng.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Thời gian đã được trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm ở lần chấm dứt trước (kể cả khi ký lại với chính công ty đó) không được tính lại.
- Doanh nghiệp chuyển đổi, sáp nhập: người sử dụng lao động kế tiếp chịu trách nhiệm tính cả thời gian làm việc cho người sử dụng lao động trước nếu chưa được chi trả.
- Khoản tiền này được ưu tiên thanh toán khi doanh nghiệp giải thể, phá sản (Điều 48 khoản 2).
- Tranh chấp về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng không bắt buộc hòa giải; thời hiệu khởi kiện 01 năm; người lao động được miễn án phí.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Làm 10 năm thì được 5 tháng lương." — Đúng: chỉ đúng nếu cả 10 năm chưa đóng bảo hiểm thất nghiệp.
- Sai: "Tự nghỉ việc thì không có trợ cấp thôi việc." — Đúng: nghỉ có báo trước đúng hạn là đơn phương chấm dứt hợp pháp, vẫn được trợ cấp.
- Sai: "Tính theo lương đóng bảo hiểm." — Đúng: tính theo lương bình quân 06 tháng theo hợp đồng lao động.
- Sai: "Bị sa thải vẫn được nửa tháng lương mỗi năm." — Đúng: khoản 8 Điều 34 không nằm trong danh sách được trợ cấp.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Dịch là severance allowance (cách dùng trong bản dịch Bộ luật Lao động) hoặc severance pay. Trợ cấp mất việc làm là job-loss allowance; nên giữ hai thuật ngữ tách biệt vì ở nhiều nước common law redundancy pay bao trùm cả hai. Không nhầm với unemployment benefit — trợ cấp thất nghiệp do quỹ bảo hiểm trả.
Thuật ngữ liên quan
- Chấm dứt hợp đồng lao động — lý do chấm dứt quyết định có trợ cấp hay không.
- Trợ cấp thất nghiệp — chi trả cho phần thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp.
- Sa thải — trường hợp không có trợ cấp thôi việc.
- Tiền lương — căn cứ là lương bình quân 06 tháng theo hợp đồng.
- Tuổi nghỉ hưu — đủ điều kiện hưởng lương hưu thì không có trợ cấp thôi việc.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, Điều 34, 46, 47, 48 — còn hiệu lực.
- Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Điều 8 — còn hiệu lực.
- Luật Việc làm số 74/2025/QH15, Điều 33 khoản 7, Điều 35 khoản 3 — hiệu lực từ 01/01/2026.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, Điều 12 — miễn án phí.
Hỏi đáp nhanh
Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian làm việc thì còn trợ cấp thôi việc không?
Không còn phần nào để tính, vì thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp bị trừ ra (Điều 46 khoản 2). Đa số người lao động vào làm sau 2009 ở doanh nghiệp có đóng đủ bảo hiểm sẽ có trợ cấp thôi việc bằng 0; quyền lợi của họ chuyển sang trợ cấp thất nghiệp do quỹ chi trả.
Công ty không đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thì trợ cấp thôi việc tính thế nào?
Thời gian công ty lẽ ra phải đóng mà không đóng vẫn được tính trợ cấp thôi việc, vì luật chỉ trừ thời gian người lao động đã thực sự tham gia. Ngoài ra Luật Việc làm 2025 buộc công ty không đóng đủ phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ thất nghiệp người lao động lẽ ra được hưởng (Điều 33 khoản 7).
Ký nhiều hợp đồng ngắn, mỗi cái dưới 12 tháng, có được trợ cấp thôi việc không?
Có, nếu làm liên tục cho cùng một người sử dụng lao động. Điều kiện "làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng" xét theo tổng thời gian làm việc thực tế, không xét riêng từng hợp đồng; các hợp đồng nối tiếp được cộng dồn, rồi mới trừ phần đã đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.