Thưởng là số tiền, tài sản hoặc hình thức khác mà người sử dụng lao động trao cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc. Khác với tiền lương, thưởng không có mức sàn và không bắt buộc theo luật; nó chỉ thành nghĩa vụ khi đã được cam kết trong hợp đồng, thỏa ước hoặc quy chế thưởng đã công bố.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
1. Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động.
2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.
Điều 104 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 (hiệu lực từ 01/01/2021; không bị sửa đổi trong văn bản hợp nhất 18/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026).
Giải nghĩa dễ hiểu
Điểm khác Bộ luật 2012
Bộ luật cũ dùng chữ "tiền thưởng", căn cứ kết quả sản xuất, kinh doanh hằng năm. Bộ luật 2019 mở rộng: thưởng bằng tiền, tài sản (điện thoại, xe máy, cổ phiếu) hoặc hình thức khác (chuyến du lịch), và bỏ chữ "hằng năm", nên thưởng tháng, quý, dự án đều nằm trong Điều 104.
Quy chế thưởng
- Ai quyết định: người sử dụng lao động. Không cần người lao động đồng ý, nhưng nơi có công đoàn cơ sở hoặc tổ chức của người lao động thì phải tham khảo ý kiến trước.
- Phải công khai tại nơi làm việc. Quy chế "trong ngăn kéo giám đốc" không có giá trị ràng buộc người lao động khi xét điều kiện thưởng.
- Đối thoại bắt buộc: ban hành quy chế thưởng là một trong các vụ việc phải tổ chức đối thoại tại nơi làm việc (Điều 63 khoản 2 điểm c).
- Quy chế nên ghi rõ: đối tượng, điều kiện (thâm niên tối thiểu, còn làm việc đến ngày chi, không bị kỷ luật), cách tính, thời điểm chi. Tiêu chí mập mờ là nguồn tranh chấp thưởng phổ biến nhất.
Thưởng trong các phép tính khác
- Không thuộc tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (Điều 7 Nghị định 158/2025/NĐ-CP).
- Không tính vào tiền lương giờ làm căn cứ trả lương làm thêm giờ; Điều 55 Nghị định 145/2020/NĐ-CP loại trừ rõ tiền thưởng theo Điều 104 và tiền thưởng sáng kiến.
- Vẫn là thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế thu nhập cá nhân (khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15), cộng vào thu nhập tháng chi trả khi khấu trừ.
- Không được dùng để "bù" cho đủ lương tối thiểu vùng: mức lương theo công việc phải tự nó không thấp hơn mức tối thiểu.
Phân biệt thưởng với tiền lương
| Tiêu chí | Thưởng (Điều 104) | Tiền lương (Điều 90) |
|---|---|---|
| Căn cứ trả | Kết quả kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc | Thỏa thuận để thực hiện công việc |
| Ai quyết định | Người sử dụng lao động, theo quy chế | Hai bên thỏa thuận trong hợp đồng |
| Mức sàn | Không có | Mức lương theo công việc không thấp hơn lương tối thiểu vùng |
| Đóng bảo hiểm xã hội | Không | Mức lương, phụ cấp, khoản bổ sung trả thường xuyên |
| Kỳ hạn | Theo quy chế | Tháng, nửa tháng; lương giờ, ngày, tuần tối đa 15 ngày phải trả gộp |
| Cắt giảm | Được nếu không đạt điều kiện đã công bố | Chỉ khấu trừ để bồi thường tài sản, tối đa 30%/tháng |
Ví dụ tình huống
Công ty TNHH Phần mềm Sao Mai (một phường thuộc TP. Hồ Chí Minh) công bố quy chế thưởng Tết ngày 01/10/2026 sau khi tham khảo công đoàn: người làm đủ 12 tháng trong năm được 01 tháng lương; chưa đủ thì chia theo tháng; điều kiện còn làm việc đến ngày chi thưởng 25/01/2027.
- Anh Vương Đình Khang, lương 24.000.000 đồng, làm cả năm: thưởng 24 triệu đồng, không tính đóng bảo hiểm xã hội; khoản này cộng vào thu nhập tháng 01/2027 để công ty khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
- Chị Đinh Thu Hà vào làm 01/5/2026, lương 18.000.000 đồng: 8 tháng làm việc, thưởng 18 × 8/12 = 12 triệu đồng.
- Anh Lâm Quốc Việt nghỉ việc đúng luật ngày 31/12/2026: theo điều kiện đã công bố trước, anh không thuộc diện được thưởng. Nếu quy chế không có điều kiện này mà chỉ tính theo tháng làm việc, anh được 01 tháng lương.
Riêng chị Kha Ngọc Ánh có hợp đồng ghi "lương tháng thứ 13 bằng 01 tháng lương, trả cùng lương tháng 12". Đây là thỏa thuận trong hợp đồng; năm 2026 công ty lỗ cũng không được đơn phương bỏ, muốn thay đổi phải thỏa thuận sửa hợp đồng.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Thỏa ước lao động tập thể có thể nâng thưởng thành nghĩa vụ; tiền lương, thưởng là nội dung đầu tiên của thương lượng tập thể (Điều 67).
- Không được biến "trừ thưởng" thành phạt tiền: Bộ luật cấm phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật (Điều 127). Không trả thưởng chuyên cần khi người lao động không đạt điều kiện đã công bố là hợp lệ; nhưng "trừ thưởng" theo từng lỗi ngoài quy chế dễ bị coi là phạt tiền trá hình.
- Phân biệt đối xử: không được loại người lao động khỏi diện thưởng vì mang thai, nghỉ thai sản, tham gia công đoàn (Điều 3 khoản 8, Điều 8).
- Khu vực công có chế độ tiền thưởng riêng theo văn bản về lương của cán bộ, công chức, viên chức, không theo Điều 104.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Thưởng Tết là quyền đương nhiên." — Đúng: chỉ bắt buộc khi đã cam kết trong hợp đồng, thỏa ước hoặc quy chế đã công bố.
- Sai: "Thưởng không phải đóng bảo hiểm thì cũng không chịu thuế." — Đúng: thưởng vẫn là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
- Sai: "Công ty cứ ghi phụ cấp cố định thành thưởng để khỏi đóng bảo hiểm." — Đúng: cơ quan bảo hiểm xét bản chất; khoản cố định trả đều mỗi kỳ là khoản bổ sung phải đóng.
- Sai: "Quy chế thưởng phải được người lao động biểu quyết." — Đúng: người sử dụng lao động quyết định, chỉ phải tham khảo tổ chức đại diện và công bố công khai.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Dùng bonus; quy chế thưởng là bonus policy hoặc bonus regulations. Thưởng Tết là Tet bonus; "lương tháng 13" là 13th-month salary và nên tách khỏi performance bonus vì hai khoản khác nhau về tính bắt buộc. Tránh incentive khi dịch Điều 104, từ này rộng hơn, gồm cả phúc lợi, cổ phiếu ưu đãi.
Thuật ngữ liên quan
- Tiền lương — khoản trả theo thỏa thuận, có mức sàn và tính bảo hiểm.
- Phụ cấp lương — thành phần của tiền lương, dễ bị đặt tên nhầm thành thưởng.
- Thuế thu nhập cá nhân — thưởng là thu nhập chịu thuế.
- Thỏa ước lao động tập thể — có thể biến thưởng thành nghĩa vụ.
- Đối thoại tại nơi làm việc — bắt buộc khi ban hành quy chế thưởng.
- Kỷ luật lao động — cấm phạt tiền, trừ lương thay kỷ luật.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, Điều 63, 67, 90, 104, 127 — còn hiệu lực (hợp nhất tại 18/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026).
- Nghị định 158/2025/NĐ-CP, Điều 7 — tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Điều 55 — tiền lương giờ làm căn cứ tính làm thêm giờ.
- Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, khoản 2 Điều 3 — áp dụng cho thu nhập từ tiền lương, tiền công từ kỳ tính thuế 2026.
Hỏi đáp nhanh
Công ty không thưởng Tết thì người lao động có kiện được không?
Nếu thưởng Tết chỉ là chính sách tùy công ty, không ghi trong hợp đồng, thỏa ước hay quy chế đã công bố, thì không có căn cứ đòi: thưởng do người sử dụng lao động quyết định (Điều 104). Ngược lại, khi hợp đồng ghi "lương tháng 13" với mức cụ thể, hoặc quy chế thưởng đã công bố và người lao động đáp ứng điều kiện, khoản đó thành nghĩa vụ và có thể yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động.
Tiền thưởng có phải đóng bảo hiểm xã hội không?
Không. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không gồm các khoản phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất, quá trình làm việc, chất lượng thực hiện công việc (Điều 7 Nghị định 158/2025/NĐ-CP); thưởng theo kết quả kinh doanh thuộc nhóm này. Nhưng nếu một khoản gọi là "thưởng" mà thực chất trả cố định, đều đặn mỗi kỳ lương thì có thể bị coi là khoản bổ sung phải đóng.
Nghỉ việc trước Tết vài ngày có được thưởng Tết không?
Tùy quy chế thưởng. Luật không buộc thưởng theo tỷ lệ thời gian làm việc; nhiều quy chế đặt điều kiện "còn làm việc tại thời điểm chi thưởng" hoặc chia theo số tháng làm việc. Người lao động nên đọc quy chế trước khi chọn ngày nghỉ; công ty chỉ được áp dụng điều kiện đã công bố công khai, không được đặt thêm sau khi người lao động đã nộp đơn.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.