Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân (bên đại diện) nhận ủy nhiệm của thương nhân khác (bên giao đại diện) để thực hiện hoạt động thương mại với danh nghĩa và theo chỉ dẫn của bên giao đại diện, và được hưởng thù lao. Hợp đồng do bên đại diện ký với khách hàng ràng buộc trực tiếp bên giao đại diện.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
1. Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện. 2. Trong trường hợp thương nhân cử người của mình để làm đại diện cho mình thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 141 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 (hiệu lực từ 01/01/2006)
Giải nghĩa dễ hiểu
Bốn dấu hiệu nhận biết
- Cả hai bên đều là thương nhân.
- Bên đại diện hành động nhân danh bên giao đại diện, không nhân danh mình.
- Theo chỉ dẫn của bên giao đại diện, trong phạm vi được giao — có thể một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại của bên giao (Điều 143).
- Có thù lao; hợp đồng phải lập bằng văn bản hoặc hình thức tương đương (Điều 142).
Nghĩa vụ chính của bên đại diện (Điều 145)
- Hành động vì lợi ích bên giao đại diện, báo cho bên giao về cơ hội và kết quả.
- Tuân thủ chỉ dẫn hợp pháp.
- Không được thực hiện hoạt động thương mại nhân danh mình hoặc người thứ ba trong phạm vi đại diện.
- Giữ bí mật trong thời gian đại diện và hai năm sau khi chấm dứt.
- Bảo quản tài sản, tài liệu được giao.
Nghĩa vụ của bên giao đại diện (Điều 146)
Báo ngay cho bên đại diện việc hợp đồng đã được giao kết, thực hiện ra sao, có chấp nhận phần làm vượt phạm vi hay không; cung cấp tài liệu, thông tin; trả thù lao và chi phí hợp lý; báo kịp thời nếu không thể giao kết, thực hiện hợp đồng trong phạm vi đại diện.
Thù lao, chi phí và quyền cầm giữ
Thù lao tính trên hợp đồng giao kết trong phạm vi đại diện; thời điểm phát sinh do hợp đồng quy định; không thỏa thuận mức thì lấy theo giá dịch vụ cùng loại (Điều 147, 86). Chi phí hợp lý được hoàn (Điều 148). Bên đại diện được cầm giữ tài sản, tài liệu để bảo đảm thanh toán thù lao, chi phí đã đến hạn (Điều 149).
Chấm dứt khi không có thời hạn
Hợp đồng không ghi thời hạn chấm dứt khi một bên thông báo cho bên kia. Nếu bên giao đại diện chủ động chấm dứt, bên đại diện được đòi thù lao cho các hợp đồng bên giao ký với khách mà bên đại diện đã giao dịch, cùng các khoản thù lao khác đáng lẽ được hưởng; nếu chính bên đại diện xin chấm dứt thì mất quyền này, trừ thỏa thuận khác (Điều 144).
Phân biệt đại diện cho thương nhân với văn phòng đại diện và đại diện theo ủy quyền
| Tiêu chí | Đại diện cho thương nhân | Văn phòng đại diện | Đại diện theo ủy quyền (Bộ luật Dân sự) |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Dịch vụ trung gian giữa hai thương nhân độc lập | Đơn vị phụ thuộc của chính doanh nghiệp | Quan hệ ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện |
| Người đại diện | Thương nhân khác | Không phải chủ thể riêng | Bất kỳ cá nhân, pháp nhân nào, kể cả nhân viên |
| Thù lao | Bắt buộc có | Không đặt ra | Có hoặc không, tùy thỏa thuận |
| Ký hợp đồng thay | Có, trong phạm vi đại diện | Không, trừ khi trưởng văn phòng có giấy ủy quyền (Điều 18 Luật Thương mại) | Có, trong phạm vi ủy quyền |
| Bảo mật sau chấm dứt | 2 năm theo luật | — | Không có thời hạn luật định |
Ví dụ tình huống
Từ tháng 01/2026, Công ty Phân bón Đồng Xanh ở Cần Thơ ký hợp đồng để Công ty Tư vấn Thương mại Mê Kông đại diện mình đàm phán, ký hợp đồng bán phân bón với các hợp tác xã ở An Giang, Đồng Tháp; thù lao 2% giá trị mỗi hợp đồng; không ghi thời hạn.
Ngày 01/9/2026, Đồng Xanh thông báo chấm dứt. Tháng 10, Đồng Xanh tự ký với ba hợp tác xã mà Mê Kông đã đàm phán từ tháng 7, tổng 5 tỷ đồng.
- Mê Kông được đòi thù lao 2% × 5 tỷ = 100 triệu đồng (khoản 3 Điều 144), cộng chi phí hợp lý chưa được hoàn.
- Trong khi chưa được thanh toán khoản đã đến hạn, Mê Kông được giữ lại hồ sơ khách hàng, mẫu hàng Đồng Xanh đã giao (Điều 149).
- Mê Kông vẫn phải giữ bí mật về giá vốn, chính sách chiết khấu của Đồng Xanh đến hết ngày 01/9/2028.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Ghi rõ phạm vi và hạn mức: giá tối thiểu, điều kiện thanh toán, giá trị tối đa mỗi hợp đồng bên đại diện được tự ký. Phần ký vượt phạm vi chỉ ràng buộc bên giao nếu bên giao chấp nhận (khoản 1 Điều 146; Điều 143 Bộ luật Dân sự).
- Doanh nghiệp nước ngoài chưa có hiện diện tại Việt Nam hay dùng mô hình này; cần phân biệt với việc lập văn phòng đại diện, vốn chỉ làm xúc tiến và không được kinh doanh sinh lợi trực tiếp.
- Thuế: thù lao đại diện là doanh thu dịch vụ của bên đại diện; hợp đồng do bên đại diện ký với khách vẫn là doanh thu của bên giao đại diện, hóa đơn bán hàng do bên giao xuất.
- Chuyên ngành: đại lý bảo hiểm về bản chất cũng nhân danh doanh nghiệp bảo hiểm nhưng theo Luật Kinh doanh bảo hiểm.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "đại diện cho thương nhân" là văn phòng đại diện. — Đúng: văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc; đại diện cho thương nhân là một thương nhân khác làm dịch vụ.
- Sai: bên đại diện có thể vừa đại diện vừa tự bán cùng mặt hàng cho cùng khách. — Đúng: cấm hoạt động nhân danh mình hoặc người thứ ba trong phạm vi đại diện (khoản 4 Điều 145).
- Sai: chấm dứt hợp đồng là hết mọi nghĩa vụ. — Đúng: nghĩa vụ bảo mật kéo dài 2 năm; bên giao chủ động chấm dứt còn phải trả thù lao cho các giao dịch bên đại diện đã làm.
- Sai: hợp đồng đại diện nói miệng cũng được. — Đúng: phải bằng văn bản hoặc hình thức tương đương như email, thông điệp dữ liệu (Điều 142, khoản 15 Điều 3).
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Bản dịch Luật Thương mại dùng representation for traders; trong hợp đồng quốc tế thường gọi là commercial agency, bên đại diện là commercial agent, bên giao đại diện là principal. Lưu ý: "đại lý thương mại" của Việt Nam (nhân danh chính mình) không tương ứng với commercial agent, mà gần với distributor hoặc commission agent; dịch lẫn hai khái niệm này là lỗi rất phổ biến.
Thuật ngữ liên quan
- Đại lý thương mại — trung gian nhân danh chính mình
- Môi giới thương mại — trung gian không ký thay ai
- Ủy thác mua bán hàng hóa — mua bán nhân danh mình cho bên ủy thác
- Đại diện theo ủy quyền — áp dụng khi cử nhân viên làm đại diện
- Văn phòng đại diện — đơn vị phụ thuộc, dễ nhầm tên
- Hợp đồng ủy quyền — mô hình dân sự tương ứng
Căn cứ pháp lý
- Luật Thương mại số 36/2005/QH11 (Văn bản hợp nhất số 113/VBHN-VPQH) — khoản 11, 15 Điều 3, Điều 18, 86, 141–149, 306; còn hiệu lực.
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 — Điều 134–143, 562–569.
Hỏi đáp nhanh
Công ty cử nhân viên đi ký hợp đồng thì có phải là đại diện cho thương nhân không?
Không. Khoản 2 Điều 141 Luật Thương mại quy định khi thương nhân cử người của mình làm đại diện thì áp dụng Bộ luật Dân sự — đó là đại diện theo ủy quyền bằng giấy ủy quyền. Đại diện cho thương nhân là quan hệ giữa hai thương nhân độc lập, có hợp đồng và thù lao.
Hết hợp đồng đại diện rồi có được làm cho đối thủ của bên giao đại diện không?
Luật không cấm làm cho đối thủ sau khi chấm dứt, nhưng bên đại diện không được tiết lộ, cung cấp bí mật kinh doanh của bên giao đại diện trong thời gian làm đại diện và trong hai năm kể từ khi chấm dứt hợp đồng (khoản 5 Điều 145), trừ thỏa thuận khác. Muốn cấm cạnh tranh sau chấm dứt thì phải thỏa thuận riêng.
Bên giao đại diện chậm trả thù lao thì bên đại diện có quyền gì?
Ngoài quyền đòi thù lao, chi phí và tiền lãi chậm trả (Điều 306), bên đại diện được cầm giữ tài sản, tài liệu được giao để bảo đảm thanh toán các khoản đã đến hạn (Điều 149), trừ khi có thỏa thuận khác.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.