Ủy thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và của nước ngoài để bên kia thực hiện một hoạt động tư pháp trên lãnh thổ của họ, như tống đạt giấy tờ, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng. Từ 01/7/2026, hai luật mới về tương trợ tư pháp dân sự và hình sự thay thế thuật ngữ này bằng "yêu cầu tương trợ tư pháp", nhưng bản chất không đổi.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 định nghĩa ủy thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp (khoản 1 Điều 6, tóm lược). Luật này hết hiệu lực từ 01/7/2026. Luật mới quy định cách hiểu thuật ngữ cũ:
Quy định "ủy thác tư pháp" trong lĩnh vực dân sự theo khoản 1 Điều 6 của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành được sử dụng tương đương quy định "yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự" quy định tại Luật này.
Khoản 2 Điều 38 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15 (thông qua ngày 26/11/2025, hiệu lực từ 01/7/2026). Khoản 2 Điều 42 Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15 quy định tương tự cho lĩnh vực hình sự.
Giải nghĩa dễ hiểu
Ủy thác tư pháp dùng để làm gì
Tòa án Việt Nam không có quyền tự đi tống đạt hay lấy lời khai ở nước khác. Phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự gồm: tống đạt giấy tờ; thu thập, cung cấp chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người giám định; cung cấp giấy tờ hộ tịch, trích lục bản án về hộ tịch; cung cấp thông tin pháp luật; các yêu cầu khác (Điều 8 Luật 102/2025). Trong hình sự, tương trợ tư pháp phục vụ xác minh, điều tra, thu thập chứng cứ, thi hành án (Điều 3 Luật 103/2025).
Ai là đầu mối
- Dân sự: Bộ Tư pháp là Cơ quan trung ương (Điều 4 Luật 102/2025). Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án lập hồ sơ gửi Bộ Tư pháp; Bộ kiểm tra trong 20 ngày, hồ sơ thiếu thì yêu cầu bổ sung trong 07 ngày làm việc, rồi chuyển cho nước ngoài theo điều ước hoặc qua đường ngoại giao (Điều 19).
- Hình sự: Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Cơ quan trung ương (Điều 6 Luật 103/2025; Điều 493 BLTTHS).
Hồ sơ
Văn bản yêu cầu (nêu rõ mục đích, tình tiết, điều luật, phương thức, thời hạn), giấy tờ cần tống đạt, chứng từ nộp chi phí, bản dịch sang ngôn ngữ nước được yêu cầu chấp nhận; lập 03 bộ, khi hệ thống điện tử vận hành thì 02 bộ kèm hồ sơ điện tử (Điều 17, 18 Luật 102/2025). Chi phí do người có nghĩa vụ nộp của nước yêu cầu chi trả, theo điều ước hoặc theo pháp luật phí, lệ phí (Điều 11).
Phân biệt ủy thác tư pháp với ủy thác thu thập chứng cứ và ủy thác điều tra trong nước
| Tiêu chí | Ủy thác tư pháp (tương trợ tư pháp) | Ủy thác thu thập chứng cứ | Ủy thác điều tra |
|---|---|---|---|
| Phạm vi | Giữa Việt Nam và nước ngoài | Giữa các Tòa án trong nước, hoặc qua kênh tương trợ khi ở nước ngoài | Giữa các Cơ quan điều tra trong nước |
| Đầu mối | Bộ Tư pháp (dân sự), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (hình sự) | Tòa án ra quyết định ủy thác trực tiếp | Cơ quan điều tra ra quyết định ủy thác |
| Thời hạn | Phụ thuộc nước được yêu cầu, thường tính bằng tháng | 01 tháng kể từ ngày nhận quyết định ủy thác (Điều 105 BLTTDS) | Theo thời hạn Cơ quan điều tra ủy thác yêu cầu (Điều 171 BLTTHS) |
| Căn cứ | Luật 102/2025, Luật 103/2025, điều ước quốc tế | Điều 105 BLTTDS | Điều 171 BLTTHS |
Ví dụ tình huống
Chị Hằng ở phường Hải An, thành phố Hải Phòng, nộp đơn ly hôn chồng là công dân Việt Nam đang sinh sống tại Đức. Tòa án nhân dân khu vực thụ lý ngày 15/7/2026, sau khi luật mới có hiệu lực. Tòa lập hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự, gồm thông báo thụ lý (ghi sẵn ngày phiên hòa giải trong khoảng 15/01–15/3/2027 và ngày phiên tòa trong khoảng 15/4–15/7/2027 theo Điều 476 BLTTDS), bản sao đơn, kèm bản dịch tiếng Đức, gửi Bộ Tư pháp. Bộ kiểm tra trong 20 ngày rồi chuyển cho cơ quan có thẩm quyền của Đức theo Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt mà cả hai nước là thành viên.
Vì người chồng là công dân Việt Nam, Tòa còn có thể gửi qua bưu chính đến cơ quan đại diện Việt Nam tại Đức để tống đạt (điểm d khoản 1 Điều 474). Nếu người chồng tự nguyện, Tòa có thể đề nghị lấy lời khai trực tuyến qua kênh tương trợ tư pháp (Điều 25 Luật 102/2025). Quá hạn không có kết quả, Tòa niêm yết 01 tháng và có thể xử vắng mặt.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Yêu cầu do Bộ Tư pháp tiếp nhận trước 01/7/2026 tiếp tục giải quyết theo Luật Tương trợ tư pháp 2007 (khoản 1 Điều 38 Luật 102/2025).
- Không có điều ước: tương trợ tư pháp dân sự thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại; có thể từ chối nếu nước kia không hợp tác (khoản 2 Điều 6 Luật 102/2025).
- Tạm đình chỉ: chờ kết quả ủy thác tư pháp là căn cứ tạm đình chỉ vụ án dân sự (điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS) và tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra (điểm c khoản 1 Điều 229 BLTTHS).
- Giá trị chứng cứ: tài liệu do nước ngoài thu thập theo yêu cầu của Việt Nam được dùng để giải quyết vụ việc (Điều 24 Luật 102/2025; Điều 494 BLTTHS).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: ủy thác tư pháp là việc ủy quyền cho luật sư. Đúng: đây là hoạt động giữa cơ quan nhà nước hai nước; ủy quyền cho luật sư là quan hệ dân sự.
- Sai: từ 01/7/2026 không còn ủy thác tư pháp. Đúng: chỉ đổi tên thành yêu cầu tương trợ tư pháp; văn bản cũ ghi "ủy thác tư pháp" vẫn được hiểu tương đương.
- Sai: người ở nước ngoài cứ im lặng là vụ án không xử được. Đúng: sau khi tống đạt không có kết quả và niêm yết đủ thủ tục, Tòa có thể xét xử vắng mặt.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
letter rogatory (hoặc letter of request) sát với ủy thác tư pháp theo nghĩa cũ; tương trợ tư pháp là mutual legal assistance, trong hình sự thường viết tắt MLA; Cơ quan trung ương là Central Authority. Không dịch là judicial entrustment, cách dịch từng chữ này người đọc nước ngoài không hiểu.
Thuật ngữ liên quan
- Tống đạt — mục đích phổ biến nhất của ủy thác tư pháp
- Thu thập chứng cứ — chứng cứ ở nước ngoài phải qua kênh tương trợ
- Ly hôn có yếu tố nước ngoài — loại việc dùng ủy thác tư pháp nhiều nhất
- Tạm đình chỉ giải quyết vụ án — khi phải chờ kết quả ủy thác
- Người phiên dịch — hồ sơ phải kèm bản dịch
- Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài — một dạng hợp tác tư pháp quốc tế khác
Căn cứ pháp lý
- Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15: Điều 3, 4, 6, 8, 11, 16–19, 24, 25, 37, 38 — hiệu lực từ 01/7/2026.
- Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15: Điều 3, 6, 41, 42 — hiệu lực từ 01/7/2026.
- Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 — hết hiệu lực từ 01/7/2026, trừ trường hợp chuyển tiếp.
- Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13: Điều 105, 214, 474, 476, 477; Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13: Điều 171, 229, 491–494.
Hỏi đáp nhanh
Ly hôn với người đang ở nước ngoài thì ủy thác tư pháp mất bao lâu?
Luật buộc Tòa ấn định phiên hòa giải sớm nhất 06 tháng, chậm nhất 08 tháng và phiên tòa sớm nhất 09 tháng, chậm nhất 12 tháng kể từ ngày ra thông báo thụ lý (Điều 476 BLTTDS), chính là để chờ kết quả tống đạt qua kênh tương trợ tư pháp. Nếu người ở nước ngoài ủy quyền cho người ở Việt Nam nhận văn bản thì thời gian rút ngắn đáng kể.
Người dân có tự gửi hồ sơ ủy thác tư pháp sang nước ngoài được không?
Không. Người có thẩm quyền yêu cầu là Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan có thẩm quyền khác (Điều 16 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự 2025). Đương sự chỉ cung cấp địa chỉ chính xác của người ở nước ngoài, nộp chi phí và bản dịch theo yêu cầu.
Ủy thác tư pháp không có kết quả thì vụ án có bị treo mãi không?
Không. Nếu không nhận được kết quả, Tòa niêm yết công khai trong 01 tháng tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án hoặc nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam và đăng trên Cổng thông tin điện tử, sau đó có thể xét xử vắng mặt (khoản 3 Điều 474, khoản 5 Điều 477 BLTTDS).
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.