Ép buộc trong kinh doanh là hành vi dùng đe dọa hoặc cưỡng ép đối với khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó. Thay vì giành khách bằng sản phẩm tốt hơn, doanh nghiệp vi phạm cắt đứt đầu ra, đầu vào của đối thủ bằng sức ép.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
2. Ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó.
Khoản 2 Điều 45 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 (hiệu lực từ 01/7/2019)
Điều 17 Nghị định 75/2019/NĐ-CP vẫn giữ tên gọi "hành vi ép buộc trong kinh doanh" từ Luật Cạnh tranh 2004 khi quy định mức phạt.
Giải nghĩa dễ hiểu
Ba yếu tố cần chứng minh
- Người bị ép là khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác: đại lý, nhà bán lẻ, nhà cung cấp nguyên liệu, đơn vị vận chuyển, chủ mặt bằng. Không phải người tiêu dùng mua hàng của chính doanh nghiệp vi phạm.
- Phương thức là đe dọa hoặc cưỡng ép: đe dọa là báo trước một điều bất lợi nếu không làm theo (thu hồi công nợ ngay lập tức, cắt hàng đột ngột, tung tin xấu, gây khó khăn bằng quan hệ); cưỡng ép là trực tiếp dùng sức ép buộc làm theo.
- Mục đích là buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với một doanh nghiệp xác định. Ép đối tác ký giá thấp cho mình mà không nhằm vào đối thủ nào thì không thuộc điều này.
Mức phạt theo Điều 17 Nghị định 75/2019/NĐ-CP
- 100–200 triệu đồng với hành vi ép buộc khách hàng, đối tác của doanh nghiệp khác.
- 200–300 triệu đồng nếu người bị ép là khách hàng hoặc đối tác kinh doanh lớn nhất của đối thủ.
- Gấp hai lần các mức trên nếu thực hiện trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trở lên.
- Kèm theo: tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và khoản lợi nhuận thu được.
Các mức áp dụng cho tổ chức; cá nhân kinh doanh chịu một nửa. Mức phạt cụ thể là mức trung bình của khung, tăng giảm theo tình tiết (khoản 8 Điều 4, sửa bởi Nghị định 102/2026/NĐ-CP).
Phân biệt ép buộc trong kinh doanh với lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
| Tiêu chí | Ép buộc trong kinh doanh | Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường |
|---|---|---|
| Ai có thể vi phạm | Mọi doanh nghiệp, không cần sức mạnh thị trường | Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh (từ 30% thị phần với một doanh nghiệp hoặc có sức mạnh thị trường đáng kể) |
| Cách thức | Đe dọa, cưỡng ép | Áp đặt điều kiện, ngăn cản gia nhập, phân biệt đối xử; không cần đe dọa |
| Nhóm vụ việc | Cạnh tranh không lành mạnh | Hạn chế cạnh tranh |
| Mức phạt tổ chức | 100–300 triệu đồng, nhân đôi nếu từ hai tỉnh | 01%–10% doanh thu trên thị trường liên quan |
| Người quyết định | Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia | Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh |
Ví dụ tình huống
Tháng 5/2026, Công ty TNHH Thức ăn chăn nuôi Đồng Bằng nhắn tin cho 30 đại lý ở tỉnh An Giang và TP. Cần Thơ: đại lý nào còn nhập hàng của Công ty cổ phần Thịnh Phát sẽ bị thu hồi toàn bộ công nợ trong 03 ngày và mất chiết khấu cả năm. Tám đại lý ngừng nhập hàng Thịnh Phát, trong đó có đại lý Ba Tân, nơi tiêu thụ nhiều hàng Thịnh Phát nhất.
Các yếu tố đều có: người bị ép là đối tác của Thịnh Phát; lời nhắn là đe dọa gây bất lợi; mục đích ghi rõ là cắt giao dịch với Thịnh Phát. Vì có ép buộc đối tác lớn nhất của đối thủ, khung là 200–300 triệu đồng; hành vi trên hai tỉnh, thành phố nên khung nhân đôi thành 400–600 triệu đồng, mức trung bình 500 triệu đồng. Thời hạn điều tra 60 ngày, gia hạn tối đa 45 ngày. Thịnh Phát nên giữ ảnh chụp tin nhắn kèm số điện thoại gửi, xin xác nhận của đại lý, sổ nhập hàng trước và sau tháng 5. Phần doanh thu bị mất, Thịnh Phát đòi bồi thường tại Tòa án.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Điều kiện thương mại công khai, thỏa thuận từ đầu (đại lý độc quyền, chiết khấu cho đại lý chỉ bán một thương hiệu) thường không phải ép buộc; vấn đề phát sinh khi điều kiện được áp đặt đột ngột kèm lời đe dọa nhằm vào một đối thủ cụ thể.
- Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh làm những việc tương tự thì nhiều khả năng bị xử lý theo quy định về lạm dụng, với mức phạt tính theo doanh thu.
- Đe dọa dùng vũ lực, hủy hoại tài sản có thể đồng thời cấu thành vi phạm hành chính về trật tự hoặc tội phạm; chuyển hồ sơ khi có dấu hiệu tội phạm theo Điều 85 Luật Cạnh tranh.
- Chứng cứ thường dùng: tin nhắn, ghi âm cuộc gọi (người tham gia cuộc gọi tự ghi), văn bản thông báo chính sách, lời khai của khách hàng, đối tác bị ép.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: ép người tiêu dùng mua hàng kèm là ép buộc trong kinh doanh theo Luật Cạnh tranh. Đúng: đó là vấn đề của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng; khoản 2 Điều 45 nói về ép khách hàng, đối tác của doanh nghiệp khác.
- Sai: phải là doanh nghiệp lớn mới vi phạm được. Đúng: hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ cũng có thể vi phạm; luật không đòi hỏi thị phần.
- Sai: chỉ đe dọa bằng lời thì không có bằng chứng, không xử được. Đúng: lời khai của nhiều đại lý cùng mô tả một nội dung, kết hợp việc họ đồng loạt ngừng nhập hàng, là chứng cứ được chấp nhận.
- Sai: mức phạt tối đa 2 tỷ đồng. Đúng: với hành vi này, tổ chức bị phạt cao nhất 600 triệu đồng; 2 tỷ đồng là trần chung của cạnh tranh không lành mạnh.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Có thể dịch là coercion in business hoặc coercion of a competitor's customers and business partners. Trong luật cạnh tranh các nước, hành vi ép đối tác tẩy chay đối thủ gần với boycott (khi có nhiều bên) và exclusionary conduct; khi do doanh nghiệp thống lĩnh thực hiện thì gọi là exclusive dealing hay refusal to deal. Không dùng duress, chữ đó chỉ sự cưỡng ép làm vô hiệu hợp đồng trong luật dân sự.
Thuật ngữ liên quan
- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh — nhóm hành vi chứa ép buộc
- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường — hành vi gần giống của doanh nghiệp có sức mạnh thị trường
- Đại lý thương mại — quan hệ hay bị nhắm tới
- Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác — cản trở trực tiếp đối thủ thay vì ép đối tác
- Vụ việc cạnh tranh — thủ tục khiếu nại, điều tra
- Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia — cơ quan xử phạt
Căn cứ pháp lý
- Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 — khoản 6 Điều 3, Điều 24, 27, khoản 2 Điều 45, Điều 81, 85.
- Nghị định 75/2019/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 102/2026/NĐ-CP (hiệu lực 20/5/2026) — Điều 4, 17.
Hỏi đáp nhanh
Hợp đồng đại lý độc quyền cấm đại lý bán hàng của hãng khác có phải ép buộc trong kinh doanh không?
Thông thường không. Điều khoản được hai bên tự nguyện thỏa thuận từ khi ký hợp đồng là quyền tự do hợp đồng. Ép buộc là khi dùng đe dọa, cưỡng ép để buộc khách hàng, đối tác của doanh nghiệp khác cắt quan hệ với doanh nghiệp đó. Tuy vậy, nếu bên giao đại lý có vị trí thống lĩnh thị trường, điều khoản độc quyền có thể bị xem xét theo quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh.
Đe dọa nhưng đại lý không nghe theo thì có bị phạt không?
Có thể vẫn bị phạt. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ cần gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp khác (khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh). Việc đe dọa không thành công là căn cứ để cân nhắc mức phạt chứ không loại trừ trách nhiệm.
Đối thủ cho người đến cửa hàng của đại lý gây sức ép thì báo ai?
Nếu có hành vi đe dọa dùng vũ lực, gây rối trật tự, hủy hoại tài sản thì báo ngay công an nơi xảy ra; đó có thể là vi phạm trật tự công cộng hoặc tội phạm. Phần hành vi cạnh tranh thì gửi hồ sơ cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Hai đường xử lý độc lập với nhau.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.