Hành vi hạn chế cạnh tranh là nhóm hành vi làm méo mó "luật chơi" của thị trường chứ không nhắm vào một đối thủ cụ thể: các đối thủ bắt tay nhau định giá, chia vùng, thông thầu; hoặc doanh nghiệp đứng đầu thị trường dùng sức mạnh để đẩy người khác ra ngoài. Luật Cạnh tranh 2018 gom vào ba nhóm: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền.
Khoản 2 Điều 3 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 (hiệu lực từ 01/7/2019)
Tác động hạn chế cạnh tranh là tác động loại trừ, làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường.
Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14
Giải nghĩa dễ hiểu
Ba nhóm hành vi
- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (Điều 11, 12): 11 loại thỏa thuận, từ ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế sản lượng, thông thầu đến tẩy chay doanh nghiệp ngoài thỏa thuận. Một số loại bị cấm tuyệt đối, số khác chỉ bị cấm khi gây tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể.
- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường (Điều 24, 27 khoản 1): doanh nghiệp từ 30% thị phần hoặc có sức mạnh thị trường đáng kể bán dưới giá thành để loại đối thủ, phân biệt đối xử, bán kèm, ngăn cản gia nhập.
- Lạm dụng vị trí độc quyền (Điều 25, 27 khoản 2): doanh nghiệp không có đối thủ áp đặt điều kiện bất lợi, đơn phương thay đổi hợp đồng.
"Có khả năng gây tác động" là đủ
Định nghĩa không đòi thiệt hại đã xảy ra. Một thỏa thuận chia vùng chưa kịp thực hiện vẫn có thể bị xử lý nếu chứng minh được khả năng gây tác động. Đây là khác biệt lớn so với trách nhiệm dân sự, vốn cần thiệt hại thực tế.
Ai có thể vi phạm
Mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh, kể cả đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và hiệp hội ngành, nghề (Điều 2). Luật còn áp dụng với hành vi thực hiện ở nước ngoài nếu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam (Điều 1). Cơ quan nhà nước không phải chủ thể của hành vi hạn chế cạnh tranh nhưng bị cấm ép buộc, khuyến nghị doanh nghiệp liên kết để hạn chế cạnh tranh (khoản 1 Điều 8).
Phân biệt hành vi hạn chế cạnh tranh với cạnh tranh không lành mạnh
| Tiêu chí | Hành vi hạn chế cạnh tranh | Hành vi cạnh tranh không lành mạnh |
|---|---|---|
| Bản chất | Làm giảm mức độ cạnh tranh của cả thị trường | Thủ đoạn gian dối, trái đạo đức kinh doanh nhắm vào doanh nghiệp khác |
| Yêu cầu thị phần | Thường gắn với thị phần, sức mạnh thị trường | Không cần |
| Thời hạn điều tra | 09 tháng, gia hạn tối đa 03 tháng | 60 ngày, gia hạn tối đa 45 ngày |
| Người quyết định xử lý | Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, qua phiên điều trần | Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia |
| Mức phạt tối đa | 10% tổng doanh thu trên thị trường liên quan | 2 tỷ đồng (tổ chức) |
| Khoan hồng | Có, với thỏa thuận bị cấm | Không |
Ví dụ tình huống
Năm doanh nghiệp sản xuất gạch không nung tại tỉnh Bắc Ninh có tổng thị phần 70% trên thị trường gạch không nung khu vực tỉnh và lân cận. Tháng 02/2026, giám đốc kinh doanh của năm công ty họp tại một nhà hàng, thống nhất từ 01/3/2026 cùng tăng giá 12% và không bán cho các công trình đang mua của công ty thứ sáu. Nội dung được ghi lại trong một nhóm nhắn tin. Tháng 5/2026, một công ty trong nhóm rút ra và nộp đơn khoan hồng kèm toàn bộ tin nhắn.
Đây là thỏa thuận ấn định giá giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan — bị cấm tuyệt đối theo khoản 1 Điều 12, không cần chứng minh tác động đáng kể — và thỏa thuận không giao dịch với bên ngoài. Bốn công ty còn lại có thể bị phạt 01%–10% doanh thu gạch không nung năm 2025 của từng công ty (Điều 6 Nghị định 75/2019/NĐ-CP). Công ty nộp đơn đầu tiên, nếu đáp ứng đủ điều kiện và không phải bên tổ chức, được miễn toàn bộ tiền phạt. Vì thị phần kết hợp từ 30% trở lên, hồ sơ còn phải được xem xét dấu hiệu tội phạm theo điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Hình sự nếu thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 1 tỷ đồng.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Trình tự: khiếu nại (thời hiệu 03 năm) hoặc Ủy ban tự phát hiện → quyết định điều tra → điều tra 09 tháng (+ tối đa 03 tháng) → Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh mở phiên điều trần → quyết định xử lý (Điều 77, 80, 81, 93, 94).
- Miễn trừ: một số thỏa thuận bị cấm có thể được miễn trừ có thời hạn (tối đa 05 năm) nếu có lợi cho người tiêu dùng và thúc đẩy công nghệ, chất lượng, sức cạnh tranh quốc tế… (Điều 14, 21). Từ 01/7/2026, Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP rút thời hạn ra quyết định miễn trừ xuống 45 ngày.
- Ngưỡng an toàn: thỏa thuận giữa đối thủ có thị phần kết hợp dưới 5%, hoặc giữa các khâu trong chuỗi có thị phần mỗi bên dưới 15%, được coi là không gây tác động đáng kể — nhưng chỉ với các loại thỏa thuận cần đánh giá tác động (khoản 3 Điều 11 Nghị định 35/2020/NĐ-CP).
- Khiếu nại quyết định xử lý lên Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trong 30 ngày; vụ hạn chế cạnh tranh do Hội đồng giải quyết khiếu nại xem xét. Không đồng ý thì khởi kiện vụ án hành chính trong 30 ngày (Điều 96, 100, 103).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Không ký văn bản thì không phải thỏa thuận." — Đúng: thỏa thuận "dưới mọi hình thức": biên bản họp, tin nhắn, thống nhất miệng đều được.
- Sai: "Doanh nghiệp nước ngoài thông đồng ở nước ngoài thì luật Việt Nam không với tới." — Đúng: Điều 1 áp dụng cho hành vi gây tác động đến thị trường Việt Nam.
- Sai: "Mọi thỏa thuận giữa nhà cung cấp và đại lý đều an toàn." — Đúng: thỏa thuận dọc (ấn định giá bán lại, phân vùng độc quyền…) bị cấm khi gây tác động đáng kể (khoản 4 Điều 12).
- Sai: "Khoan hồng áp dụng cho cả lạm dụng vị trí thống lĩnh." — Đúng: Điều 112 chỉ áp dụng với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Anti-competitive practices hoặc restrictive practices là cách dịch thông dụng; văn bản tiếng Anh của luật Việt Nam thường dùng competition-restricting practices. Thỏa thuận giữa đối thủ để định giá, chia thị trường thường gọi là cartel; không nên dịch "hạn chế cạnh tranh" là unfair competition — đó là cạnh tranh không lành mạnh.
Thuật ngữ liên quan
- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh — nhóm thứ nhất
- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường — nhóm thứ hai
- Vị trí độc quyền — điều kiện của nhóm thứ ba
- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh — nhóm vi phạm song song, xử lý khác
- Miễn trừ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh — ngoại lệ có thời hạn
- Vụ việc cạnh tranh — thủ tục điều tra, xử lý
- Thông đồng trong đấu thầu — dạng thỏa thuận bị cấm tuyệt đối
Căn cứ pháp lý
- Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 — Điều 1, 2, 3, 8, 11–14, 24–27, 77, 81, 111, 112; hiệu lực từ 01/7/2019, còn hiệu lực.
- Nghị định 35/2020/NĐ-CP — Chương III (đánh giá tác động của thỏa thuận).
- Nghị định 75/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh, sửa đổi bởi Nghị định 102/2026/NĐ-CP (hiệu lực 20/5/2026).
- Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP — Phụ lục I.2 về thủ tục miễn trừ (áp dụng từ 01/7/2026 đến hết 28/02/2027).
- Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025) — Điều 217.
Hỏi đáp nhanh
Hiệp hội ngành ra văn bản "khuyến nghị" hội viên cùng tăng giá có vi phạm không?
Có rủi ro lớn. Hiệp hội ngành, nghề là đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh (khoản 2 Điều 2). Văn bản khuyến nghị mức giá chung có thể bị coi là hình thức của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các hội viên — luật dùng chữ "dưới mọi hình thức". Ngoài ra, tổ chức, cá nhân vận động, kêu gọi, tổ chức để doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh vi phạm khoản 2 Điều 8, bị phạt tới 200 triệu đồng với tổ chức.
Doanh nghiệp đã lỡ tham gia thỏa thuận ấn định giá thì có cách nào giảm phạt?
Có: nộp đơn hưởng khoan hồng trước khi có quyết định điều tra, khai báo trung thực, nộp toàn bộ chứng cứ và hợp tác suốt quá trình. Doanh nghiệp đầu tiên được miễn 100% tiền phạt, thứ hai giảm 60%, thứ ba giảm 40% (Điều 112 Luật Cạnh tranh). Doanh nghiệp giữ vai trò ép buộc, tổ chức thỏa thuận không được hưởng.
Người tiêu dùng bị thiệt vì các hãng thông đồng giá có được bồi thường không?
Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh chủ yếu phạt tiền nộp ngân sách. Người bị thiệt hại muốn được bồi thường cần khởi kiện dân sự tại Tòa án theo quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015); quyết định xử lý đã có hiệu lực của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là chứng cứ quan trọng.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.