Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên về việc đưa tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh ra trọng tài giải quyết. Nó vừa là "tấm vé" mở thẩm quyền cho trọng tài, vừa là "tấm chắn" buộc Tòa án từ chối thụ lý; viết sai một chữ có thể khiến cả cơ chế trọng tài không dùng được khi cần.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
"Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh."
Khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 (hiệu lực từ 01/01/2011)
Hình thức tại Điều 16, các trường hợp vô hiệu tại Điều 18, tính độc lập tại Điều 19. Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP giải thích chi tiết "vô hiệu" (Điều 3) và "không thể thực hiện được" (Điều 4).
Giải nghĩa dễ hiểu
Hai dạng
Điều khoản trọng tài nằm trong hợp đồng (ký trước khi có tranh chấp) hoặc thỏa thuận riêng (thường ký sau khi tranh chấp đã nổ ra) — khoản 1 Điều 16. Cả hai có giá trị như nhau.
Thế nào là "văn bản"
Khoản 2 Điều 16 mở rộng: trao đổi qua thư điện tử, fax, telex; thông tin bằng văn bản qua lại; thỏa thuận do luật sư, công chứng viên ghi lại theo yêu cầu các bên; dẫn chiếu tới một văn bản có điều khoản trọng tài (hợp đồng mẫu, chứng từ, điều lệ công ty); và cả việc một bên viện dẫn thỏa thuận trong đơn kiện mà bên kia không phủ nhận trong bản tự bảo vệ. Thỏa thuận miệng thì không có giá trị.
Sáu trường hợp vô hiệu (Điều 18)
- Tranh chấp không thuộc thẩm quyền trọng tài theo Điều 2 (ví dụ tranh chấp ly hôn).
- Người ký không có thẩm quyền: không phải đại diện theo pháp luật, không được ủy quyền hoặc vượt phạm vi ủy quyền.
- Người ký không có năng lực hành vi dân sự (người chưa thành niên, mất hoặc hạn chế năng lực).
- Sai hình thức: không lập thành văn bản theo Điều 16.
- Bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép và bên đó yêu cầu tuyên vô hiệu.
- Vi phạm điều cấm của pháp luật.
"Không thể thực hiện được" — khác với vô hiệu
Thỏa thuận hợp lệ nhưng không làm được, ví dụ: trung tâm được chọn đã giải thể mà không có tổ chức kế thừa và các bên không chọn được trung tâm khác; trọng tài viên được chỉ đích danh đã mất hoặc từ chối; chọn trung tâm A nhưng áp quy tắc của trung tâm B trong khi điều lệ trung tâm A không cho phép; người tiêu dùng không đồng ý ra trọng tài (Điều 4 Nghị quyết 01/2014). Khi đó tranh chấp quay về Tòa án.
Phân biệt thỏa thuận trọng tài với thỏa thuận lựa chọn Tòa án
| Tiêu chí | Thỏa thuận trọng tài | Thỏa thuận lựa chọn Tòa án |
|---|---|---|
| Tác dụng | Loại trừ thẩm quyền của Tòa án đối với nội dung tranh chấp (Điều 6) | Chỉ chọn một Tòa trong số các Tòa có thẩm quyền (nơi nguyên đơn có trụ sở…) hoặc chọn Tòa nước ngoài |
| Phạm vi được phép | Tranh chấp thương mại hoặc có một bên kinh doanh, và loại khác luật cho phép | Theo Bộ luật Tố tụng dân sự (ví dụ điểm b khoản 1 Điều 39 cho thỏa thuận chọn Tòa nơi nguyên đơn cư trú, có trụ sở) |
| Hình thức | Văn bản theo khoản 2 Điều 16 | Văn bản |
| Hậu quả khi bị bỏ qua | Tòa trả lại đơn hoặc đình chỉ | Không loại trừ Tòa án nói chung; chủ yếu xác định nơi kiện |
| Khi hợp đồng vô hiệu | Vẫn còn hiệu lực (Điều 19) | Luật không có quy định riêng như Điều 19 |
Ví dụ tình huống
Ngày 03/3/2026, Công ty TNHH Nông sản Hưng Phát (Đắk Lắk) ký hợp đồng bán 200 tấn cà phê nhân, giá 21 tỷ đồng, cho Công ty Cổ phần Xuất khẩu Biển Xanh (Thành phố Hồ Chí Minh). Điều 12 hợp đồng ghi: "Tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Thành phố Hồ Chí Minh". Tháng 7/2026, Biển Xanh từ chối nhận 80 tấn vì cho rằng độ ẩm vượt 12,5%.
Điều khoản không nêu hình thức trọng tài, không nêu tên trung tâm. Theo khoản 5 Điều 43 Luật Trọng tài thương mại, hai bên phải thỏa thuận lại; không thỏa thuận được thì việc chọn hình thức, tổ chức trọng tài theo yêu cầu của nguyên đơn. Hưng Phát (nguyên đơn) gửi đơn đến một trung tâm trọng tài tại Thành phố Hồ Chí Minh; Biển Xanh phản đối thẩm quyền trong bản tự bảo vệ. Hội đồng trọng tài phải quyết định thẩm quyền trước khi xét nội dung (Điều 43); bên không đồng ý có 05 ngày làm việc để yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực xem xét lại (Điều 44). Nếu điều khoản viết đúng ngay từ đầu — "tại Trung tâm Trọng tài X theo Quy tắc tố tụng của Trung tâm này" — cuộc tranh cãi thủ tục này đã không xảy ra.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Điều khoản mẫu an toàn: nêu tên trung tâm, quy tắc tố tụng áp dụng, địa điểm, số lượng trọng tài viên, ngôn ngữ (nếu có yếu tố nước ngoài), luật áp dụng. Thêm phạm vi rộng: "mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này".
- Nhiều thỏa thuận cho cùng một tranh chấp: thỏa thuận hợp pháp xác lập sau cùng được áp dụng (khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 01/2014).
- Người thừa kế, tổ chức kế thừa vẫn bị ràng buộc khi cá nhân chết, doanh nghiệp sáp nhập, chia, tách (khoản 2, 3 Điều 5).
- Người tiêu dùng: điều khoản trọng tài trong hợp đồng mẫu không bắt buộc họ (Điều 17 Luật Trọng tài thương mại).
- Mất quyền phản đối: biết thỏa thuận có vấn đề mà vẫn tham gia tố tụng, không phản đối đúng hạn thì không được dùng lý do đó để hủy phán quyết sau này (Điều 13).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: hợp đồng bị tuyên vô hiệu thì điều khoản trọng tài cũng mất. — Đúng: thỏa thuận trọng tài độc lập với hợp đồng (Điều 19); trọng tài vẫn có quyền xử hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Sai: ghi "trọng tài kinh tế" là vô hiệu. — Đúng: vẫn có thể xác định được ý chí chọn trọng tài; Tòa áp dụng quy tắc giải thích của Bộ luật Dân sự (khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2014). Nhưng nên tránh vì gây tranh cãi.
- Sai: chỉ người đại diện theo pháp luật mới ký được điều khoản trọng tài. — Đúng: người được ủy quyền hợp lệ ký được, miễn trong phạm vi ủy quyền.
- Sai: có thỏa thuận trọng tài thì không được xin Tòa phong tỏa tài sản. — Đúng: sau khi nộp đơn ra trọng tài, vẫn được yêu cầu Tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không bị coi là từ bỏ trọng tài (khoản 2 Điều 48).
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Arbitration agreement là thuật ngữ chung; điều khoản trong hợp đồng là arbitration clause, thỏa thuận riêng ký sau tranh chấp là submission agreement. Điều khoản viết mơ hồ, mâu thuẫn được giới hành nghề gọi là pathological arbitration clause. "Không thể thực hiện được" tương ứng incapable of being performed trong Công ước New York 1958.
Thuật ngữ liên quan
- Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài — vì sao điều khoản sống sót khi hợp đồng vô hiệu.
- Thẩm quyền của trọng tài — phát sinh từ thỏa thuận.
- Trọng tài thương mại — phương thức mà thỏa thuận dẫn tới.
- Hủy phán quyết trọng tài — thỏa thuận vô hiệu là căn cứ hủy đầu tiên.
- Giao dịch dân sự vô hiệu — gốc của lừa dối, đe dọa, vi phạm điều cấm.
- Đại diện theo ủy quyền — thẩm quyền ký thỏa thuận.
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng — ngoại lệ cho hợp đồng mẫu.
Căn cứ pháp lý
- Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12, Điều 3, 5, 6, 13, 16–19, 43, 44, 81 — còn hiệu lực.
- Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Điều 2, 3, 4, 7, 18 — còn hiệu lực.
- Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (hợp nhất 2026), Điều 192, 472.
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 — quy định về năng lực, đại diện, giao dịch vô hiệu và giải thích hợp đồng.
Hỏi đáp nhanh
Hợp đồng vừa ghi "giải quyết tại Trọng tài" vừa ghi "hoặc Tòa án" thì sao?
Thỏa thuận như vậy không vô hiệu. Theo khoản 4 Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, bên nào nộp đơn trước quyết định: đã có yêu cầu trọng tài trước khi Tòa thụ lý thì Tòa trả lại đơn; Tòa thụ lý trước thì vụ việc đi theo đường Tòa án.
Giám đốc chi nhánh ký hợp đồng có điều khoản trọng tài mà không có giấy ủy quyền thì sao?
Thỏa thuận có thể vô hiệu vì người ký không có thẩm quyền (khoản 2 Điều 18). Nhưng nếu người đại diện theo pháp luật của công ty đã biết mà không phản đối, hoặc chấp nhận trong quá trình thực hiện, tố tụng trọng tài, thì thỏa thuận không vô hiệu (khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2014). Nộp bản tự bảo vệ, chọn trọng tài viên mà không phản đối thường bị coi là đã chấp nhận.
Mua lại khoản nợ thì có bị ràng buộc bởi điều khoản trọng tài trong hợp đồng gốc không?
Có, trừ khi các bên thỏa thuận khác. Khi chuyển giao quyền, nghĩa vụ từ hợp đồng, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực với bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao (khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 01/2014).
Chỉ thỏa thuận trọng tài qua email có được không?
Được. Thỏa thuận xác lập qua thư điện tử, fax, telex và trao đổi thông tin bằng văn bản đều được coi là văn bản (điểm a, b khoản 2 Điều 16). Nên lưu đủ chuỗi thư thể hiện đề nghị và chấp nhận, tên người gửi có thẩm quyền.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.