Hủy phán quyết trọng tài là thủ tục Tòa án xem xét, theo đơn của một bên, để tuyên một phán quyết trọng tài không còn hiệu lực vì mắc một trong năm khuyết tật luật định. Tòa chỉ kiểm tra thỏa thuận, thẩm quyền, thủ tục, chứng cứ giả mạo và nguyên tắc cơ bản của pháp luật; không xử lại ai đúng ai sai.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Luật không định nghĩa cụm từ "hủy phán quyết trọng tài" mà quy định căn cứ và thủ tục tại Chương XI (Điều 68–72). Năm căn cứ:
"a) Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu; b) Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định của Luật này; c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị hủy; d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài; đ) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam."
Khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 (hiệu lực từ 01/01/2011)
Giải nghĩa dễ hiểu
Cách Tòa đọc năm căn cứ (Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP)
- Sai thủ tục chỉ dẫn tới hủy khi là vi phạm nghiêm trọng mà Hội đồng trọng tài không thể hoặc không chịu khắc phục. Ví dụ Nghị quyết nêu: một bên không được thông báo đơn khởi kiện kịp thời nên mất quyền chọn trọng tài viên; các bên thỏa thuận ba trọng tài viên và luật Việt Nam nhưng vụ việc lại do một trọng tài viên xử theo luật Singapore dù đã bị phản đối.
- Vượt thẩm quyền: tách được thì chỉ hủy phần vượt, giữ phần còn lại.
- Chứng cứ giả mạo phải được chứng minh, liên quan tới việc ra phán quyết và ảnh hưởng tới tính khách quan.
- Trái nguyên tắc cơ bản: Tòa phải chỉ ra nguyên tắc cụ thể bị vi phạm, có liên quan tới vụ việc, và phán quyết xâm phạm nghiêm trọng lợi ích Nhà nước hoặc quyền lợi hợp pháp của các bên, người thứ ba.
Ai phải chứng minh
Với căn cứ a, b, c, d, bên yêu cầu hủy phải chứng minh; với căn cứ đ, Tòa có trách nhiệm chủ động xác minh, thu thập chứng cứ (khoản 3 Điều 68). Vi phạm mà bên đó đã biết nhưng không phản đối đúng hạn trong tố tụng trọng tài thì mất quyền viện dẫn (Điều 13; Điều 6 Nghị quyết 01/2014), trừ căn cứ đ.
Trình tự
- Nộp đơn trong 30 ngày kể từ ngày nhận phán quyết, kèm bản chính hoặc bản sao chứng thực phán quyết và thỏa thuận trọng tài; giấy tờ tiếng nước ngoài phải dịch, chứng thực (Điều 69, 70).
- Tòa có thẩm quyền: nơi Hội đồng tuyên phán quyết (điểm g khoản 2 Điều 7). Từ 01/7/2025 chỉ ba Tòa: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (18 tỉnh, thành phía Bắc và Bắc Trung Bộ), thành phố Đà Nẵng (Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa), Thành phố Hồ Chí Minh (09 tỉnh, thành phía Nam) — Điều 2 Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15.
- Trong 07 ngày làm việc kể từ thụ lý, Chánh án lập Hội đồng xét đơn gồm 03 Thẩm phán; trong 30 ngày phải mở phiên họp; Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ 07 ngày làm việc trước phiên họp (Điều 71).
- Theo yêu cầu của một bên, Hội đồng xét đơn có thể tạm đình chỉ tối đa 60 ngày để Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng (khoản 7 Điều 71).
- Quyết định hủy hoặc không hủy là cuối cùng; gửi các bên trong 05 ngày làm việc.
Phân biệt hủy phán quyết trọng tài với không công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài
| Tiêu chí | Hủy phán quyết trọng tài | Không công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài |
|---|---|---|
| Đối tượng | Phán quyết tuyên tại Việt Nam theo Luật Trọng tài thương mại | Phán quyết của trọng tài nước ngoài |
| Tòa giải quyết | Ba Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Nghị quyết 81/2025 | Tòa án nhân dân khu vực nơi bên phải thi hành cư trú, có trụ sở hoặc có tài sản |
| Căn cứ | Khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại | Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự |
| Hậu quả | Phán quyết mất hiệu lực; các bên thỏa thuận lại trọng tài hoặc kiện ra Tòa | Không được thi hành tại Việt Nam; ở nước khác phán quyết vẫn có thể có hiệu lực |
| Xem xét lại | Không; quyết định là cuối cùng | Kháng cáo trong 15 ngày lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh |
Ví dụ tình huống
Công ty TNHH Cơ điện Thành Công (Bắc Ninh) kiện Công ty Cổ phần Khu công nghiệp Phúc Hưng (Hưng Yên) tại một trung tâm trọng tài ở Hà Nội. Ngày 05/8/2026 phán quyết buộc Phúc Hưng trả 7,2 tỷ đồng; Phúc Hưng nhận phán quyết ngày 07/8/2026, hạn yêu cầu hủy đến hết ngày 06/9/2026. Phúc Hưng nộp đơn tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ngày 04/9/2026 với hai lý do: (1) giấy triệu tập phiên họp gửi tới trụ sở cũ dù Phúc Hưng đã thông báo bằng văn bản địa chỉ mới cho trung tâm, nên công ty vắng mặt và mất quyền trình bày; (2) Hội đồng trọng tài đánh giá sai biên bản nghiệm thu khối lượng.
Lý do (2) bị gạt: Tòa không xét lại việc đánh giá chứng cứ (khoản 4 Điều 71). Lý do (1), nếu chứng minh được, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục (điểm b khoản 2 Điều 68). Thành Công đề nghị tạm đình chỉ để Hội đồng trọng tài mở lại phiên họp có Phúc Hưng; không khắc phục thì Tòa hủy phán quyết. Khi đó Thành Công có thể khởi kiện tại Tòa án; thời gian đã ở trọng tài và thời gian xét đơn hủy không tính vào thời hiệu (khoản 9 Điều 71).
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Quyết định công nhận hòa giải thành của Hội đồng trọng tài (Điều 58) cũng có thể bị yêu cầu hủy (khoản 1 Điều 14 Nghị quyết 01/2014).
- Phán quyết của trọng tài nước ngoài: Tòa Việt Nam không có thẩm quyền hủy; chỉ xét công nhận hoặc không công nhận (điểm b khoản 5 Điều 5 Nghị quyết 01/2014).
- Lệ phí: yêu cầu hủy thuộc diện nộp lệ phí Tòa án (khoản 3 Điều 39 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: yêu cầu hủy là kháng cáo phán quyết. — Đúng: Tòa không xét lại nội dung; chỉ xem năm căn cứ.
- Sai: nộp đơn ở Tòa án nhân dân khu vực hoặc Tòa tỉnh nơi bị đơn có trụ sở. — Đúng: từ 01/7/2025 chỉ ba Tòa thành phố theo nơi tuyên phán quyết.
- Sai: áp dụng sai một điều luật là "trái nguyên tắc cơ bản". — Đúng: phải là nguyên tắc xử sự nền tảng bị vi phạm nghiêm trọng.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Setting aside an arbitral award (Điều 34 Luật mẫu UNCITRAL) là cách dịch chuẩn; tương đương annulment trong hệ châu Âu lục địa, vacatur trong luật Hoa Kỳ. Không dịch là appeal. "Nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam" thường được đối chiếu với public policy, nhưng phạm vi của luật Việt Nam được Nghị quyết 01/2014 giải thích riêng.
Thuật ngữ liên quan
- Phán quyết trọng tài — đối tượng bị yêu cầu hủy.
- Thỏa thuận trọng tài — vô hiệu là căn cứ hủy đầu tiên.
- Tố tụng trọng tài — vi phạm thủ tục nghiêm trọng dẫn tới hủy.
- Thi hành phán quyết trọng tài — phải chờ khi có đơn hủy.
- Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài — cơ chế tương ứng cho phán quyết nước ngoài.
Căn cứ pháp lý
- Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12, Điều 7, 13, 66, 68–72 — còn hiệu lực; khoản 3 Điều 7 sửa bởi Luật số 81/2025/QH15.
- Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025, Điều 2 (hiệu lực 01/7/2025).
- Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13, khoản 2 Điều 37, Điều 414 (sửa đổi bởi Luật số 85/2025/QH15).
- Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, Điều 5, 6, 14, 15 — còn hiệu lực.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, Điều 39.
Hỏi đáp nhanh
Tôi nhận phán quyết qua email trước, bản giấy đến sau, 30 ngày tính từ lúc nào?
Luật tính từ "ngày nhận được phán quyết trọng tài" (khoản 1 Điều 69). Nếu quy tắc tố tụng của trung tâm cho phép gửi bằng thư điện tử và đó là phương thức đã thống nhất, ngày nhận thư điện tử có thể bị coi là mốc. An toàn nhất là tính theo mốc sớm hơn. Chỉ thời gian có sự kiện bất khả kháng mới được trừ ra (khoản 2 Điều 69).
Trong lúc Tòa xét đơn hủy, bên thắng có yêu cầu thi hành được không?
Điều 66 chỉ cho yêu cầu thi hành khi bên phải thi hành không tự nguyện và cũng không yêu cầu hủy. Vì vậy đơn hủy được thụ lý đúng hạn thường làm việc thi hành phải chờ kết quả. Nếu Tòa không hủy, phán quyết được thi hành (khoản 8 Điều 71).
Quyết định của Tòa về việc hủy có bị kháng cáo không?
Không. Quyết định của Tòa là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành (khoản 10 Điều 71). Dự thảo sửa luật năm 2025–2026 có đưa ra phương án xem xét lại theo giám đốc thẩm, nhưng đến 10/2026 chưa được thông qua.
Phán quyết bị hủy thì tiền phí trọng tài đã nộp có được trả lại không?
Luật không buộc trung tâm hoàn phí khi phán quyết bị hủy; việc hoàn trả, nếu có, theo quy tắc và biểu phí của trung tâm. Sau khi bị hủy, các bên thỏa thuận lại để đưa ra trọng tài hoặc một bên khởi kiện tại Tòa án (khoản 8 Điều 71).
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.