Người tố giác, báo tin về tội phạm là cá nhân đã phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm, hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đã thông báo vụ việc có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Đây là người tham gia tố tụng, có quyền được giữ bí mật, được bảo vệ khi bị đe dọa, được biết kết quả giải quyết và được khiếu nại.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.
Khoản 1, 2 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 (hiệu lực từ 01/7/2016). Quyền và nghĩa vụ của người tố giác, báo tin: Điều 56; người tố giác là người tham gia tố tụng theo Điều 55.
Giải nghĩa dễ hiểu
Ba nguồn tin khác nhau
- Tố giác: chỉ cá nhân, thường là người chứng kiến hoặc chính bị hại. Có thể bằng lời hoặc văn bản.
- Tin báo: từ cơ quan, tổ chức, cá nhân (như ngân hàng báo giao dịch bất thường, bệnh viện báo bệnh nhân bị đâm), hoặc thông tin trên báo chí.
- Kiến nghị khởi tố: văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thanh tra, kiểm toán, thuế, hải quan…) kèm chứng cứ.
Bốn quyền (khoản 1 Điều 56)
- Yêu cầu giữ bí mật việc tố giác, báo tin.
- Yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình và người thân thích khi bị đe dọa.
- Được thông báo kết quả giải quyết.
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin — kể cả quyết định không khởi tố vụ án (khoản 2 Điều 158).
Nghĩa vụ: có mặt khi cơ quan giải quyết yêu cầu và trình bày trung thực những gì mình biết (khoản 2 Điều 56).
Lá đơn đi đâu, mất bao lâu
- Nơi nhận: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao một số hoạt động điều tra, Công an cấp xã, Đồn Công an; cơ quan, tổ chức khác cũng phải nhận và chuyển ngay. Không ai được từ chối tiếp nhận (Điều 145).
- Thủ tục: lập biên bản tiếp nhận, ghi sổ, có thể ghi âm, ghi hình; trong 03 ngày cơ quan điều tra phải báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát (Điều 146).
- Thời hạn: 20 ngày để kiểm tra, xác minh; vụ phức tạp kéo dài tới 02 tháng; Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn một lần không quá 02 tháng (Điều 147). Có thể tạm đình chỉ khi chờ giám định, định giá, tương trợ tư pháp, tài liệu quan trọng, hoặc vì thiên tai, dịch bệnh (Điều 148); quyết định tạm đình chỉ phải gửi cho người tố giác.
Phân biệt tố giác tội phạm với tố cáo và tự thú
| Tiêu chí | Tố giác tội phạm | Tố cáo (Luật Tố cáo) | Tự thú |
|---|---|---|---|
| Nội dung | Hành vi có dấu hiệu tội phạm của bất kỳ ai | Vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức hoặc trong quản lý nhà nước | Chính người phạm tội tự khai tội của mình khi chưa bị phát hiện |
| Luật điều chỉnh | BLTTHS, Điều 143–148 | Luật Tố cáo số 25/2018/QH14 | BLTTHS (căn cứ khởi tố) và Điều 51 BLHS |
| Cơ quan giải quyết | Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát | Người đứng đầu cơ quan quản lý người bị tố cáo | Cơ quan điều tra |
| Hệ quả | Khởi tố, không khởi tố hoặc tạm đình chỉ | Kết luận nội dung tố cáo, xử lý kỷ luật, hành chính | Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự |
Ví dụ tình huống
Chị Mai Thị Thu, nhân viên kho của một công ty dược ở phường Ba Đình, Hà Nội, phát hiện trưởng kho thường xuyên ghi khống phiếu xuất, chuyển thuốc ra ngoài; ước tính thiệt hại từ tháng 01 đến tháng 4/2026 khoảng 900 triệu đồng. Ngày 08/5/2026, chị đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố nộp đơn tố giác kèm ảnh chụp 46 phiếu xuất, đề nghị giữ bí mật danh tính vì đang cùng làm việc với người bị tố giác.
Cơ quan điều tra lập biên bản tiếp nhận, ghi sổ; ngày 10/5 báo Viện kiểm sát nhân dân thành phố. Do phải đối chiếu chứng từ với ba nhà thuốc ở tỉnh khác, thời hạn xác minh kéo dài tới 02 tháng. Giữa chừng, chị Thu nhận tin nhắn đe dọa; chị đề nghị bảo vệ và Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định giữ bí mật thông tin, cảnh cáo người có hành vi đe dọa theo Điều 486. Ngày 06/7/2026, vụ án được khởi tố về tội tham ô tài sản; Cơ quan điều tra thông báo kết quả cho chị bằng văn bản. Nếu khi đó có quyết định không khởi tố, chị có 15 ngày kể từ ngày nhận để khiếu nại.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Biện pháp bảo vệ (Điều 484–486): canh gác, hạn chế đi lại, giữ bí mật thông tin, di chuyển chỗ ở, thay đổi tung tích (nếu đồng ý), răn đe, vô hiệu hóa hành vi xâm hại. Cơ quan quyết định là Cơ quan điều tra Công an, Quân đội; từ 01/7/2025 có cả Điều tra viên là Trưởng, Phó Trưởng Công an cấp xã được phân công.
- Nghĩa vụ tố giác: biết rõ một trong các tội mà việc chuẩn bị phạm tội bị xử lý (giết người, cướp tài sản, các tội xâm phạm an ninh quốc gia… — khoản 2, 3 Điều 14 BLHS) đang được chuẩn bị, hoặc tội thuộc danh mục Điều 389 BLHS đang hoặc đã thực hiện mà không tố giác thì có thể bị xử lý về tội không tố giác tội phạm (Điều 390), phạt đến 03 năm tù.
- Ngoại lệ: người thân thích gần (ông bà, cha mẹ, con cháu, anh chị em ruột, vợ chồng) và người bào chữa không phải chịu trách nhiệm về tội không tố giác, trừ tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 19 BLHS).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Đơn tố giác phải nộp đúng công an nơi xảy ra vụ việc." — Đúng: mọi cơ quan có trách nhiệm đều phải nhận; không đúng thẩm quyền thì họ chuyển.
- Sai: "Người tố giác phải tự chứng minh có tội phạm." — Đúng: trách nhiệm chứng minh thuộc cơ quan tiến hành tố tụng; người tố giác chỉ cần trình bày trung thực và cung cấp những gì mình có.
- Sai: "Tố giác rồi thì có quyền rút để dừng vụ án." — Đúng: trừ chín tội khởi tố theo yêu cầu của bị hại, việc rút đơn không làm dừng việc giải quyết.
- Sai: "Tố giác nặc danh là vô giá trị." — Đúng: BLTTHS không đòi tố giác phải ghi tên; thông tin nặc danh vẫn có thể được kiểm tra, nhưng người gửi không thể đòi thông báo kết quả hay khiếu nại.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Tố giác về tội phạm là crime report hoặc denunciation of a crime; người tố giác là person reporting a crime hoặc informant. Whistleblower chỉ hợp khi người tố giác là người bên trong tổ chức báo vi phạm của chính tổ chức đó, như ví dụ trên. Kiến nghị khởi tố dịch là recommendation for prosecution hoặc referral for criminal proceedings.
Thuật ngữ liên quan
- Khởi tố vụ án hình sự — kết quả có thể có của việc tố giác
- Người bị hại — thường đồng thời là người tố giác
- Tố cáo — chế định gần nghĩa theo Luật Tố cáo
- Người làm chứng — tư cách người tố giác có thể mang khi vụ án đã khởi tố
- Cơ quan điều tra — nơi giải quyết nguồn tin
- Viện kiểm sát — kiểm sát việc giải quyết tố giác
- Khiếu nại — quyền khi không đồng ý kết quả giải quyết
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Điều 55, 56, 143–148, 158, 471, 484–486 — văn bản hợp nhất số 17/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026, đang có hiệu lực (sửa đổi bởi Luật số 02/2021/QH15 và Luật số 99/2025/QH15).
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi 2017, 2025), Điều 19, 156, 389, 390.
- Luật Tố cáo số 25/2018/QH14 — để phân biệt với tố giác tội phạm.
Hỏi đáp nhanh
Tố giác qua điện thoại hay tin nhắn có được không?
Được. Tố giác, tin báo có thể bằng lời hoặc bằng văn bản; tố giác qua bưu chính, điện thoại, phương tiện thông tin khác được ghi vào sổ tiếp nhận (Điều 144, 146 BLTTHS). Tuy vậy, nên đến trực tiếp hoặc gửi đơn có chữ ký, kèm chứng cứ, để được lập biên bản tiếp nhận và về sau có căn cứ đòi thông báo kết quả, khiếu nại.
Biết người thân phạm tội mà không báo có bị xử lý không?
Ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác, trừ khi đó là tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác (khoản 2 Điều 19 Bộ luật Hình sự).
Tố giác mà công an không trả lời thì làm gì?
Cơ quan nhận tố giác phải thông báo kết quả giải quyết (khoản 4 Điều 145). Quá thời hạn 20 ngày, hoặc tối đa 04 tháng nếu đã kéo dài và gia hạn, có thể gửi đơn đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát. Nếu nhận quyết định không khởi tố, có 15 ngày để khiếu nại (Điều 158, 471).
Tố giác sai có bị đi tù không?
Chỉ khi cố ý. Người cố ý tố giác sai sự thật bị xử lý kỷ luật, phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 5 Điều 144). Bịa đặt người khác phạm tội rồi tố cáo với cơ quan có thẩm quyền là hành vi của tội vu khống (Điều 156 Bộ luật Hình sự). Tố giác trung thực nhưng sau xác minh không có tội phạm thì không bị xử lý.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.