Hợp đồng tặng cho tài sản là thỏa thuận theo đó một bên chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho bên kia mà không đòi đền bù, và bên kia đồng ý nhận. Tặng cho là hợp đồng, không phải hành vi đơn phương: người được tặng có quyền từ chối.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.
Điều 457 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (hiệu lực từ 01/01/2017).
Giải nghĩa dễ hiểu
Không đền bù — nhưng có thể kèm điều kiện
Bên được tặng không trả tiền. Tuy vậy, bên tặng được yêu cầu bên được tặng thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng (Điều 462), miễn điều kiện không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Nghĩa vụ phải làm trước mà đã làm xong nhưng bên tặng không giao tài sản thì bên tặng phải thanh toán giá trị nghĩa vụ đã làm; nghĩa vụ phải làm sau mà không làm thì bên tặng được đòi lại tài sản và bồi thường.
Thời điểm có hiệu lực: khác nhau theo loại tài sản
- Động sản thông thường: có hiệu lực khi bên được tặng nhận tài sản, trừ thỏa thuận khác (Điều 458). Hứa tặng mà chưa giao thì người được hứa không có quyền đòi.
- Động sản mà luật buộc đăng ký quyền sở hữu (như tàu bay, tàu biển): có hiệu lực từ thời điểm đăng ký.
- Bất động sản: phải lập văn bản có công chứng, chứng thực; có hiệu lực từ khi đăng ký nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu, không phải đăng ký thì từ khi chuyển giao (Điều 459).
Trách nhiệm của bên tặng
Bên tặng phải thông báo khuyết tật của tài sản mà mình biết; biết mà không báo thì phải bồi thường thiệt hại (Điều 461). Cố ý tặng tài sản không thuộc sở hữu của mình thì khi chủ thật lấy lại, bên tặng phải thanh toán chi phí bên được tặng đã bỏ ra làm tăng giá trị tài sản (Điều 460).
Phân biệt tặng cho với để lại thừa kế theo di chúc
| Tiêu chí | Tặng cho | Di chúc |
|---|---|---|
| Bản chất | Hợp đồng, cần bên nhận đồng ý | Hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc |
| Thời điểm chuyển quyền | Khi người tặng còn sống (nhận tài sản hoặc đăng ký) | Sau khi người lập di chúc chết (mở thừa kế) |
| Thay đổi ý định | Không tự rút lại được sau khi có hiệu lực, trừ tặng cho có điều kiện bị vi phạm | Sửa, hủy bất cứ lúc nào khi còn sống |
| Người thừa kế bắt buộc | Không áp dụng — tài sản đã tặng không còn là di sản | Con chưa thành niên, cha mẹ, vợ chồng… vẫn hưởng ít nhất hai phần ba suất theo luật |
| Thuế thu nhập cá nhân (bất động sản) | 10% phần giá trị vượt 20 triệu đồng mỗi lần nhận; miễn giữa người thân thích nêu tại Điều 4 | Cùng cơ chế với quà tặng (Điều 18 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025) |
Ví dụ tình huống
Ngày 12/3/2026, bà Xuân (72 tuổi) ký hợp đồng tặng cho con trai là anh Thành thửa đất 200 m² tại một xã thuộc tỉnh Thái Nguyên, hợp đồng công chứng có điều khoản: "bên được tặng cho có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng bà Xuân đến cuối đời". Anh Thành đăng ký biến động ngày 25/3/2026.
- Hợp đồng có hiệu lực từ 25/3/2026, anh Thành là người sử dụng đất hợp pháp. Thu nhập từ nhận quà tặng bất động sản giữa mẹ đẻ và con đẻ được miễn thuế thu nhập cá nhân.
- Tháng 8/2026 anh Thành đưa vợ con lên tỉnh khác sống, không chu cấp, không thăm nom. Đây là vi phạm nghĩa vụ sau khi tặng cho. Bà Xuân được khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền, yêu cầu đòi lại thửa đất và bồi thường thiệt hại (khoản 3 Điều 462); bà cần chứng cứ về việc không chăm sóc (lời khai hàng xóm, xác nhận của trưởng thôn, tin nhắn).
- Nếu hợp đồng chỉ ghi "tặng cho" mà không có điều kiện, việc anh Thành không phụng dưỡng không phải căn cứ để đòi lại đất — bà Xuân chỉ còn quyền yêu cầu cấp dưỡng theo Luật Hôn nhân và gia đình.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Hồ sơ tặng cho nhà đất: hợp đồng công chứng (hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà đất), sau đó đăng ký biến động trong 30 ngày kể từ ngày có biến động (khoản 3 Điều 133 Luật Đất đai 2024), kê khai thuế, lệ phí trước bạ.
- Thuế quà tặng: từ 01/7/2026, nhận quà tặng là bất động sản, chứng khoán, phần vốn, tài sản phải đăng ký chịu thuế 10% trên phần giá trị vượt 20 triệu đồng mỗi lần nhận (Điều 18 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15); trước ngày này ngưỡng là 10 triệu đồng.
- Nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất: phải có đồng ý bằng văn bản của tất cả chủ sở hữu; nhà đang cho thuê phải báo bên thuê trước ít nhất 30 ngày, bên thuê được ở đến hết hạn hợp đồng (Điều 177 Luật Nhà ở 2023).
- Tặng cho để tẩu tán tài sản trốn nợ: có thể bị tuyên vô hiệu do giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba (khoản 2 Điều 124), không giới hạn thời hiệu.
- Người được tặng là người chưa thành niên: tặng cho chỉ làm phát sinh quyền nên không bị vô hiệu vì năng lực (điểm b khoản 2 Điều 125); thủ tục đăng ký do cha mẹ đại diện.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: Đã tặng cho con thì cha mẹ đòi lại lúc nào cũng được. Đúng: chỉ đòi được khi là tặng cho có điều kiện và điều kiện bị vi phạm, hoặc hợp đồng vô hiệu.
- Sai: Ký công chứng tặng cho là xong. Đúng: tặng cho bất động sản có hiệu lực từ khi đăng ký; chậm đăng ký là rủi ro.
- Sai: Tặng cho cho một người con thì các con khác vẫn có quyền chia khi cha mẹ mất. Đúng: tài sản đã tặng hợp pháp không còn là di sản; người thừa kế bắt buộc chỉ tính trên di sản còn lại.
- Sai: Mọi quà tặng đều chịu thuế. Đúng: chỉ quà tặng là bất động sản, chứng khoán, phần vốn và tài sản phải đăng ký sở hữu, sử dụng; giữa người thân thích theo Điều 4 với bất động sản thì miễn.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
gift agreement hoặc deed of gift (thông luật thường lập bằng "deed" vì thiếu đối giá). Bên tặng là donor, bên nhận là donee. Tặng cho có điều kiện dịch conditional gift; tránh dùng donation trong văn bản pháp lý vì từ này hay hiểu là quyên góp từ thiện.
Thuật ngữ liên quan
- Di chúc — chuyển tài sản sau khi chết, thay vì khi còn sống.
- Hợp đồng mua bán tài sản — chuyển quyền sở hữu có đền bù.
- Đăng ký biến động đất đai — thủ tục quyết định hiệu lực tặng cho đất.
- Thuế thu nhập cá nhân — thuế đối với quà tặng.
- Người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc — không áp dụng với tài sản đã tặng.
- Nghĩa vụ nuôi dưỡng — điều kiện hay gặp trong tặng cho cha mẹ – con.
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 — Điều 124, 125, 457–462 (đang có hiệu lực).
- Luật Đất đai số 31/2024/QH15 — Điều 27, 45, 133; Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 — Điều 164, 177 (hiệu lực từ 01/8/2024).
- Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 — Điều 4, 18 (hiệu lực từ 01/7/2026).
Hỏi đáp nhanh
Cha mẹ đã tặng nhà cho con, sau này có đòi lại được không?
Về nguyên tắc không, vì quyền sở hữu đã chuyển sang con. Chỉ đòi lại được nếu là tặng cho có điều kiện (ví dụ con phải chăm sóc cha mẹ đến cuối đời) mà con không thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho (khoản 3 Điều 462), hoặc hợp đồng bị tuyên vô hiệu (bị lừa dối, ép buộc…). Điều kiện phải ghi rõ trong hợp đồng.
Tặng cho đất giữa cha mẹ và con có phải nộp thuế không?
Thu nhập từ nhận quà tặng là bất động sản giữa cha mẹ đẻ với con đẻ, vợ với chồng, ông bà với cháu nội ngoại, anh chị em ruột… được miễn thuế thu nhập cá nhân (Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025). Người nhận vẫn phải làm thủ tục kê khai miễn thuế khi đăng ký biến động.
Đã ký công chứng tặng cho nhưng chưa sang tên mà người tặng chết thì sao?
Tặng cho bất động sản có hiệu lực từ thời điểm đăng ký (khoản 2 Điều 459). Chưa đăng ký mà người tặng chết thì tài sản có nguy cơ bị xác định vẫn là di sản; trên thực tế Tòa xem xét từng vụ việc. Vì vậy cần nộp hồ sơ đăng ký biến động ngay sau khi công chứng.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.