Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng được sử dụng một khoản tiền, hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền, với điều kiện phải hoàn trả. Cho vay chỉ là một hình thức; bảo lãnh, thư tín dụng, chiết khấu, bao thanh toán, cho thuê tài chính và thẻ tín dụng cũng là cấp tín dụng.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Khoản 4 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2024; sửa đổi bởi Luật số 96/2025/QH15, hiệu lực từ 15/10/2025)
Giải nghĩa dễ hiểu
Hai dạng: đưa tiền thật và cam kết đưa tiền
Giải ngân khoản vay mua nhà là đưa tiền thật. Phát hành thư bảo lãnh 3 tỷ đồng cho nhà thầu thì chưa đồng nào ra khỏi két, nhưng ngân hàng đã gánh rủi ro trả thay — đó là cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền. Cả hai đều tính vào dư nợ cấp tín dụng và đều bị phân loại nợ.
Các nghiệp vụ cấp tín dụng
- Cho vay — giao tiền dùng vào mục đích xác định, hoàn trả gốc và lãi (khoản 7 Điều 4).
- Chiết khấu — mua giấy tờ có giá trước hạn thanh toán (khoản 6 Điều 4).
- Bao thanh toán — mua lại khoản phải thu của bên bán (khoản 1 Điều 4).
- Bảo lãnh ngân hàng — cam kết trả thay; khách hàng phải nhận nợ bắt buộc (khoản 2 Điều 4).
- Thư tín dụng, cho thuê tài chính, thẻ tín dụng.
Ai được cấp tín dụng
Chỉ tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước, trong phạm vi giấy phép. Tổ chức, cá nhân khác kinh doanh hoạt động ngân hàng là hành vi bị nghiêm cấm (khoản 2 Điều 15).
Quy trình xét duyệt
Trước khi quyết định, tổ chức tín dụng phải yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh khả năng tài chính, phương án sử dụng vốn khả thi, mục đích hợp pháp (khoản 1 Điều 102). Với khoản cho vay có giá trị nhỏ, chỉ cần tối thiểu thông tin về mục đích và khả năng tài chính (khoản 2 Điều 102); từ 15/8/2026, “giá trị nhỏ” là không quá 400 triệu đồng, riêng quỹ tín dụng nhân dân không quá 200 triệu đồng (Thông tư 29/2026/TT-NHNN sửa khoản 13 Điều 2 Thông tư 39/2016). Khâu thẩm định và khâu quyết định phải tách người (khoản 4 Điều 102).
Giới hạn và đối tượng bị cấm
- Không được cấp tín dụng cho thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc của chính tổ chức đó cùng vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em của họ; không cấp tín dụng để góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng (Điều 134).
- Hạn chế — không cho vay không bảo đảm, không ưu đãi — với cổ đông lớn, kế toán trưởng, người thẩm định… (Điều 135).
- Giới hạn dư nợ của ngân hàng thương mại với một khách hàng: 13% vốn tự có, với một khách hàng và người có liên quan: 21% trong năm 2026; giảm dần còn 10% và 15% từ 01/01/2029. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng: 15% và 25% (Điều 136).
Phân biệt cấp tín dụng với cho vay
| Tiêu chí | Cấp tín dụng | Cho vay |
|---|---|---|
| Phạm vi | Khái niệm bao trùm mọi nghiệp vụ có hoàn trả | Một nghiệp vụ trong số đó |
| Tiền có ra ngay không | Có thể chỉ là cam kết (bảo lãnh, thư tín dụng, hạn mức) | Giải ngân tiền theo thỏa thuận |
| Văn bản hướng dẫn chính | Luật Các tổ chức tín dụng và nhiều thông tư theo từng nghiệp vụ | Thông tư 39/2016/TT-NHNN |
| Tính vào giới hạn Điều 136 | Toàn bộ dư nợ, kể cả trái phiếu của khách hàng mà tổ chức tín dụng nắm giữ | Một phần của tổng dư nợ đó |
| Ví dụ | Thư bảo lãnh dự thầu, thẻ tín dụng, thuê tài chính ô tô | Vay mua nhà, vay vốn lưu động |
Ví dụ tình huống
Tình huống 1 — bảo lãnh biến thành nợ. Tháng 4/2026, Công ty TNHH Minh Phát (tỉnh Đồng Nai) được ngân hàng cấp hạn mức 10 tỷ đồng: 7 tỷ vay vốn lưu động và 3 tỷ bảo lãnh thực hiện hợp đồng xây dựng. Công trình chậm, chủ đầu tư yêu cầu ngân hàng trả tiền bảo lãnh ngày 10/9/2026. Ngân hàng trả thay 3 tỷ đồng; Minh Phát phải nhận nợ bắt buộc khoản này. Ngày quá hạn tính ngay từ ngày ngân hàng trả thay, nên nếu Minh Phát không hoàn trả ngay, khoản trả thay quá hạn dưới 30 ngày đã bị xếp nhóm 3 — tức là nợ xấu (điểm b khoản 4 Điều 10 Thông tư 31/2024/TT-NHNN).
Tình huống 2 — khoản vay nhỏ. Chị Hà, giáo viên ở phường Hải Châu, Đà Nẵng, vay tiêu dùng 350 triệu đồng tháng 9/2026. Vì dưới 400 triệu, ngân hàng chỉ cần thông tin tối thiểu về mục đích và thu nhập, có thể duyệt qua ứng dụng. Nếu chị khai sai thu nhập, ngân hàng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn (khoản 1 Điều 103).
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Quyền từ chối: đủ hồ sơ không có nghĩa ngân hàng phải cho vay (khoản 2 Điều 7).
- Cho vay điện tử: từ 15/8/2026 tổ chức tín dụng phải quy định cụ thể giới hạn dư nợ cho vay bằng phương tiện điện tử với một khách hàng (điểm h khoản 2 Điều 22 Thông tư 39/2016, bổ sung bởi Thông tư 29/2026).
- Hợp vốn: nhu cầu vượt giới hạn Điều 136 thì nhiều tổ chức tín dụng cùng cho vay (khoản 6 Điều 136).
- Vi phạm: người có chức vụ trong tổ chức tín dụng cố ý cấp tín dụng trái quy định gây thiệt hại có thể bị truy cứu theo Điều 206 Bộ luật Hình sự (tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: cấp tín dụng chỉ là cho vay. Đúng: bảo lãnh, thẻ tín dụng, thư tín dụng, thuê tài chính cũng là cấp tín dụng và đều bị phân loại nợ.
- Sai: được bảo lãnh không phải là mắc nợ. Đúng: khi ngân hàng trả thay, khách hàng nhận nợ bắt buộc và khoản này dễ thành nợ xấu ngay.
- Sai: khoản vay dưới 400 triệu thì không cần chứng minh gì. Đúng: vẫn phải có thông tin tối thiểu về mục đích hợp pháp và khả năng tài chính.
- Sai: tiệm cầm đồ, ứng dụng cho vay cá nhân cũng là cấp tín dụng hợp pháp. Đúng: họ không phải tổ chức tín dụng; giao dịch là vay dân sự, chịu trần 20%/năm, và không được dùng chữ “ngân hàng”, “tín dụng” gây nhầm lẫn (Điều 5).
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
extension of credit hoặc credit extension sát nghĩa nhất với “cấp tín dụng”; trong hợp đồng hay dùng credit facility (khoản cấp tín dụng, hạn mức). Không dịch đơn giản là lending vì chữ này chỉ cho vay, bỏ sót bảo lãnh và thư tín dụng. Bảo lãnh ngân hàng là bank guarantee, thư tín dụng là letter of credit (L/C), bao thanh toán là factoring.
Thuật ngữ liên quan
- Hoạt động ngân hàng — cấp tín dụng là một trong ba nghiệp vụ cốt lõi.
- Hợp đồng tín dụng — văn bản ghi nhận khoản cấp tín dụng.
- Hạn mức tín dụng — dạng cấp tín dụng quay vòng trong mức tối đa.
- Bảo lãnh ngân hàng — cấp tín dụng dưới dạng cam kết trả thay.
- Tổ chức tín dụng — chủ thể duy nhất được cấp tín dụng thường xuyên.
- Phân loại nợ — mọi khoản cấp tín dụng đều được xếp nhóm 1–5.
Căn cứ pháp lý
- Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15, sửa đổi bởi Luật số 96/2025/QH15 — Điều 4, 7, 15, 102–104, 134–136 (đang có hiệu lực).
- Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay, sửa đổi gần nhất bởi Thông tư 29/2026/TT-NHNN (hiệu lực từ 15/8/2026).
- Thông tư 31/2024/TT-NHNN về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại (hiệu lực từ 01/7/2024) — Điều 10.
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi 2017, 2025) — Điều 206.
Hỏi đáp nhanh
Ngân hàng có buộc phải nêu lý do khi từ chối cho vay không?
Không có quy định bắt buộc nêu lý do. Tổ chức tín dụng có quyền từ chối cấp tín dụng nếu thấy không đủ điều kiện, không hiệu quả hoặc không phù hợp pháp luật (khoản 2 Điều 7 Luật Các tổ chức tín dụng 2024). Khách hàng nên hỏi bằng văn bản; lý do hay gặp là đang có nợ nhóm 2 trở lên ở nơi khác hoặc thu nhập không chứng minh được.
Người thân nhân viên ngân hàng có vay được ở chính ngân hàng đó không?
Nhân viên thường và người thân của họ vay bình thường. Lệnh cấm chỉ áp dụng với thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc và chức danh tương đương cùng vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em của họ (khoản 1 Điều 134); riêng thẻ tín dụng cho cá nhân thì không bị cấm.
Mở thẻ tín dụng có phải là được cấp tín dụng không?
Có. Phát hành thẻ tín dụng là một nghiệp vụ cấp tín dụng: ngân hàng cam kết cho chủ thẻ chi tiêu trước trong hạn mức, chủ thẻ trả sau. Vì vậy khoản quá hạn thẻ cũng được báo lên hệ thống thông tin tín dụng như một khoản vay.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.