Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại về mặt pháp lý, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày hôn nhân chấm dứt. Tài sản chung, con chung, nợ chung và quyền thừa kế giữa vợ chồng đều xác định theo khoảng thời gian này.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
13. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.
Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 (hiệu lực từ 01/01/2015)
Giải nghĩa dễ hiểu
Điểm bắt đầu: ngày ghi trên Giấy chứng nhận kết hôn
Không phải ngày cưới hay ngày về ở chung; chung sống rồi mới đăng ký thì chỉ tính từ ngày đăng ký (khoản 2 Điều 14). Bốn ngoại lệ:
- Đăng ký sai thẩm quyền: giấy bị thu hồi, hai bên đăng ký lại, nhưng hôn nhân vẫn tính từ ngày đăng ký trước (Điều 13).
- Kết hôn trái pháp luật được Tòa công nhận: tính từ thời điểm hai bên đủ điều kiện kết hôn, không phải ngày đăng ký ban đầu (khoản 2 Điều 11).
- Chung sống trước 03/01/1987, đủ điều kiện kết hôn: được công nhận là vợ chồng dù chưa đăng ký; nhóm bắt đầu chung sống từ 03/01/1987 đến trước 01/01/2001 mà đã đăng ký trong hạn (đến 01/01/2003) thì hôn nhân tính từ ngày bắt đầu chung sống (Nghị quyết 35/2000/QH10).
- Kết hôn ở nước ngoài rồi ghi chú tại Việt Nam: mốc là ngày đăng ký ở nước ngoài.
Điểm kết thúc: ba sự kiện
- Ly hôn: ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật (khoản 1 Điều 57) — không phải ngày tuyên án sơ thẩm.
- Một bên chết: thời điểm người đó chết (Điều 65).
- Một bên bị Tòa tuyên bố là đã chết: ngày chết ghi trong quyết định của Tòa, ngày này có thể lùi về trước ngày ra quyết định (Điều 65; khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự).
Bị tuyên bố mất tích thì hôn nhân chưa chấm dứt; người ở lại muốn tự do phải xin ly hôn và Tòa sẽ giải quyết cho ly hôn (khoản 2 Điều 56).
Ba thứ neo vào thời kỳ hôn nhân
- Tài sản: thu nhập, tài sản tạo ra, quyền sử dụng đất có được trong khoảng này được suy đoán là chung (Điều 33).
- Con: con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, hoặc sinh trong 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt, là con chung của vợ chồng (khoản 1 Điều 88).
- Nợ: nghĩa vụ phát sinh vì nhu cầu thiết yếu của gia đình trong khoảng này là nghĩa vụ chung (Điều 37).
Phân biệt thời kỳ hôn nhân với thời gian chung sống thực tế
| Tiêu chí | Thời kỳ hôn nhân | Thời gian chung sống thực tế |
|---|---|---|
| Mốc bắt đầu | Ngày đăng ký kết hôn | Ngày về ở chung, có thể trước hoặc sau ngày đăng ký |
| Mốc kết thúc | Bản án ly hôn có hiệu lực, một bên chết | Ngày một người dọn đi; ly thân vẫn còn hôn nhân |
| Tài sản tạo ra | Suy đoán là tài sản chung hợp nhất | Trước ngày đăng ký: sở hữu chung theo phần nếu chứng minh được góp |
| Con sinh ra | Đương nhiên suy đoán là con chung | Trước ngày đăng ký: là con chung nếu cha mẹ thừa nhận |
| Thừa kế giữa hai người | Là người thừa kế hàng thứ nhất của nhau | Không có quyền thừa kế theo pháp luật |
Ví dụ tình huống
Tình huống 1. Anh Lý Văn Hưng và chị Mạc Thị Thu (Đà Nẵng) ở chung từ năm 2018, đăng ký kết hôn ngày 15/3/2021. Tháng 9/2020 anh Hưng mua căn hộ 1,9 tỷ đồng đứng tên mình. Ngày 05/6/2026 Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn — quyết định này có hiệu lực ngay, nên thời kỳ hôn nhân của họ là từ 15/3/2021 đến 05/6/2026. Căn hộ không phải tài sản chung của vợ chồng; chị Thu chỉ có phần nếu chứng minh được mình góp tiền mua. Ngày 20/12/2026 chị Thu sinh con — 198 ngày sau khi hôn nhân chấm dứt, trong giới hạn 300 ngày — nên đứa trẻ được suy đoán là con chung. Anh Hưng muốn phủ nhận phải khởi kiện, có chứng cứ và để Tòa xác định (khoản 2 Điều 88).
Tình huống 2. Ông Đàm Văn Quế và bà Hà Thị Lụa về sống với nhau từ năm 1984 tại một xã thuộc tỉnh Phú Thọ, không đăng ký kết hôn. Mảnh đất 600 m² ông Quế đứng tên được cấp năm 1995. Ông mất tháng 02/2026, không để lại di chúc. Vì chung sống trước 03/01/1987 và đủ điều kiện kết hôn, quan hệ của hai ông bà được công nhận là hôn nhân; thời kỳ hôn nhân tính từ năm 1984. Mảnh đất là tài sản chung: bà Lụa được một nửa; nửa còn lại là di sản, chia đều cho bà và các con của hai ông bà — những người thừa kế hàng thứ nhất.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm thời kỳ hôn nhân dừng lại; nó chỉ làm phần đã chia và hoa lợi, lợi tức từ đó thành tài sản riêng (Điều 40; khoản 1 Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP).
- Người bị tuyên bố đã chết trở về: nếu người vợ, chồng kia chưa kết hôn với ai, hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn; tài sản họ có được trong khoảng thời gian quyết định tuyên bố chết còn hiệu lực là tài sản riêng (Điều 67).
- Hủy kết hôn trái pháp luật: pháp luật coi như không có thời kỳ hôn nhân hợp pháp; tài sản giải quyết như người chung sống không đăng ký (Điều 12, 16), con cái giải quyết như khi ly hôn.
- Công chứng chuyển nhượng: người đã ly hôn hoặc tái hôn bán tài sản đứng tên riêng thường phải chứng minh tình trạng hôn nhân tại thời điểm tạo lập tài sản.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Cưới từ năm 2019, đăng ký năm 2021 thì tài sản từ 2019 là chung." — Đúng: chỉ từ ngày đăng ký; trước đó là sở hữu chung theo phần nếu chứng minh được đóng góp.
- Sai: "Ly thân nhiều năm thì coi như hết vợ chồng." — Đúng: thời kỳ hôn nhân chỉ kết thúc khi bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực hoặc một bên chết.
- Sai: "Tòa tuyên án ly hôn hôm nay thì từ hôm nay đã độc thân." — Đúng: bản án sơ thẩm còn chờ hết hạn kháng cáo, kháng nghị; kết hôn với người khác trước ngày bản án có hiệu lực là vi phạm chế độ một vợ một chồng.
- Sai: "Con sinh sau ngày ly hôn là con riêng của mẹ." — Đúng: sinh trong 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt vẫn được suy đoán là con chung.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Dịch sát là duration of the marriage; trong câu văn, "trong thời kỳ hôn nhân" thường dịch during the marriage hoặc theo lối văn bản luật Anh during the subsistence of the marriage. Không dùng marriage term: dễ bị hiểu là "điều khoản hôn ước".
Thuật ngữ liên quan
- Đăng ký kết hôn — sự kiện mở đầu thời kỳ hôn nhân
- Chấm dứt hôn nhân — các sự kiện khép lại thời kỳ hôn nhân
- Tài sản chung của vợ chồng — xác định theo thời kỳ hôn nhân
- Con chung của vợ chồng — suy đoán theo thời kỳ hôn nhân và mốc 300 ngày
- Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân — tách tài sản khi hôn nhân còn tồn tại
- Chung sống như vợ chồng — sống chung không tạo ra thời kỳ hôn nhân
- Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng — nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân
Căn cứ pháp lý
- Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13: khoản 13 Điều 3; Điều 11, 12, 13, 14, 33, 37, 40, 56, 57, 65, 67, 88 — còn hiệu lực.
- Nghị quyết 35/2000/QH10 về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2000 — phần chuyển tiếp về hôn nhân thực tế vẫn được áp dụng.
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13: Điều 68, 71 (tuyên bố mất tích, tuyên bố chết), Điều 651 (hàng thừa kế).
- Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Hôn nhân và gia đình: Điều 14 — còn hiệu lực.
Hỏi đáp nhanh
Vợ chồng sống ly thân 5 năm thì tiền mỗi người kiếm được trong thời gian đó có còn là tài sản chung?
Về nguyên tắc vẫn là tài sản chung, vì ly thân không làm gián đoạn thời kỳ hôn nhân. Muốn tách bạch, vợ chồng phải lập văn bản chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38 Luật HNGĐ 2014); khi ly hôn, Tòa có thể cân nhắc công sức đóng góp thực tế của từng người lúc chia.
Bản án ly hôn tuyên ngày 10/3 nhưng đến ngày 15/4 mới có hiệu lực, thời kỳ hôn nhân kết thúc ngày nào?
Ngày 15/4 — ngày bản án có hiệu lực pháp luật (khoản 1 Điều 57). Trong khoảng giữa hai mốc, hai người vẫn là vợ chồng: tài sản một bên tạo ra vẫn được suy đoán là chung, và nếu một bên chết thì bên kia vẫn là người thừa kế hàng thứ nhất.
Mua nhà trước khi đăng ký kết hôn vài tháng, sau đó cả hai cùng trả góp, nhà là của ai?
Căn nhà là tài sản riêng của người đứng mua, vì được xác lập trước thời kỳ hôn nhân. Nhưng tiền trả góp sau ngày đăng ký kết hôn lấy từ thu nhập là tài sản chung; khi ly hôn, phần giá trị đã trả bằng tiền chung được tính khi chia tài sản. Nếu muốn nhà thành của chung, hai người lập văn bản nhập tài sản riêng vào tài sản chung có công chứng.
Làm sao chứng minh mình độc thân ở thời điểm mua đất nhiều năm trước?
Xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho đúng khoảng thời gian đó tại UBND cấp xã nơi cư trú vào thời điểm ấy. Tổ chức công chứng thường yêu cầu giấy này khi một người đã ly hôn hoặc tái hôn bán tài sản đứng tên riêng.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.