Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký. Từ ngày giao nhận, con nuôi có đủ quyền, nghĩa vụ như con đẻ đối với cha mẹ nuôi và gia đình cha mẹ nuôi, đồng thời không mất quyền thừa kế đối với cha mẹ đẻ.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
3. Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.
Khoản 3 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi số 52/2010/QH12 (hiệu lực từ 01/01/2011)
1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010
Giải nghĩa dễ hiểu
Mốc phát sinh địa vị con nuôi
Không phải ngày đứa trẻ về sống cùng, mà là ngày giao nhận con nuôi sau khi UBND cấp xã (hoặc Sở Tư pháp với trường hợp có yếu tố nước ngoài) đăng ký. Nuôi dưỡng nhiều năm mà không đăng ký thì về pháp lý vẫn không phải con nuôi.
Quan hệ với gia đình cha mẹ nuôi
- Với cha mẹ nuôi: như cha mẹ – con đẻ, gồm nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện, phụng dưỡng (Điều 68, 78 Luật HNGĐ). Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi là hành vi bị cấm.
- Với ông bà, anh chị em trong gia đình nuôi: phát sinh quyền, nghĩa vụ như thành viên gia đình, kể cả thừa kế.
- Họ, tên có thể đổi theo yêu cầu của cha mẹ nuôi; con từ đủ 09 tuổi phải đồng ý. Dân tộc của con nuôi là trẻ bị bỏ rơi xác định theo cha mẹ nuôi (khoản 2, 3 Điều 24).
Quan hệ với cha mẹ đẻ
Trừ khi hai bên cha mẹ có thỏa thuận khác, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện, bồi thường thiệt hại, quản lý tài sản riêng của đứa con đã cho làm con nuôi (khoản 4 Điều 24). Nhưng quan hệ huyết thống vẫn còn: con nuôi vẫn thừa kế của cha mẹ đẻ (Điều 653 BLDS), vẫn bị cấm kết hôn với người cùng dòng máu, và có quyền được biết về nguồn gốc của mình (Điều 11 Luật Nuôi con nuôi).
Phân biệt con nuôi với con riêng của vợ hoặc chồng
| Tiêu chí | Con nuôi | Con riêng của vợ, chồng |
|---|---|---|
| Căn cứ | Đăng ký nuôi con nuôi | Hôn nhân của cha hoặc mẹ đẻ với người khác |
| Quan hệ với người kia | Cha mẹ – con đầy đủ | Cha dượng, mẹ kế chỉ có nghĩa vụ nuôi dưỡng khi sống chung (Điều 79) |
| Cấp dưỡng khi không sống chung | Có | Không |
| Thừa kế | Hàng thứ nhất của cha mẹ nuôi | Chỉ khi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con (Điều 654 BLDS) |
| Chấm dứt | Bằng quyết định của Tòa án | Tự chấm dứt khi cha mẹ ly hôn hoặc thôi sống chung |
Ví dụ tình huống
Tình huống 1. Vợ chồng ông Kiều Văn Sơn và bà Lục Thị Hạnh (Lạng Sơn) có một con đẻ là chị Mai và năm 2012 nhận anh Phúc làm con nuôi, có đăng ký. Ông Sơn mất tháng 3/2026, không di chúc; phần di sản của ông là 2 tỷ đồng (một nửa căn nhà chung). Hàng thừa kế thứ nhất gồm bà Hạnh, chị Mai, anh Phúc và cụ bà là mẹ ông Sơn: mỗi người 500 triệu đồng. Trước đó, năm 2025 cha đẻ của anh Phúc qua đời không di chúc; anh Phúc vẫn là người thừa kế hàng thứ nhất của cha đẻ cùng các anh chị em ruột.
Tình huống 2. Bà Lâm Thị Thoa nhận chị Dung làm con nuôi năm 2011. Năm 2026, chị Dung (đã thành niên) nhiều lần đánh đập, bỏ đói bà Thoa và bị kết án về tội ngược đãi (Điều 185 BLHS). Bà Thoa yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực chấm dứt việc nuôi con nuôi theo khoản 2 Điều 25. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực, quan hệ mẹ nuôi – con nuôi chấm dứt; chị Dung có quyền lấy lại họ tên cũ, nhận lại tài sản riêng, và nếu có công đóng góp vào tài sản của bà Thoa thì được hưởng phần tương xứng (Điều 27). Ngay cả trước khi chấm dứt, bản án về hành vi ngược đãi nghiêm trọng đã làm chị Dung mất quyền hưởng di sản của bà Thoa (điểm a khoản 1 Điều 621 BLDS), trừ khi bà vẫn cho hưởng theo di chúc.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Căn cứ chấm dứt (Điều 25): con nuôi đã thành niên và hai bên tự nguyện; con nuôi bị kết án về tội cố ý xâm phạm cha mẹ nuôi, ngược đãi hoặc phá tán tài sản của cha mẹ nuôi; cha mẹ nuôi bị kết án về tội cố ý xâm phạm con nuôi, ngược đãi con nuôi; vi phạm điều cấm (Điều 13).
- Người có quyền yêu cầu chấm dứt: cha mẹ nuôi, con nuôi đã thành niên, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ; cơ quan lao động – xã hội và Hội liên hiệp phụ nữ khi có các căn cứ về kết án, vi phạm điều cấm (Điều 26).
- Con nuôi chưa thành niên khi chấm dứt: Tòa giao cho cha mẹ đẻ hoặc người khác nuôi dưỡng vì lợi ích tốt nhất của trẻ; giao về cha mẹ đẻ thì quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ được khôi phục (khoản 2, 3 Điều 27).
- Lấy lại địa vị con nuôi sau khi đã chấm dứt chỉ bằng thủ tục đăng ký mới, nếu còn đủ điều kiện về tuổi.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Cho con làm con nuôi thì con không còn thừa kế của bố mẹ đẻ." — Đúng: vẫn thừa kế cả hai phía (Điều 653 BLDS).
- Sai: "Cha mẹ nuôi muốn trả con về lúc nào cũng được." — Đúng: chỉ Tòa án chấm dứt được và chỉ khi có căn cứ Điều 25; con chưa thành niên không thể "tự nguyện chấm dứt".
- Sai: "Con nuôi được hưởng ít hơn con đẻ khi chia thừa kế." — Đúng: cùng hàng thứ nhất, suất ngang nhau.
- Sai: "Hết làm con nuôi thì coi như người dưng, có thể lấy nhau." — Đúng: cấm kết hôn giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Con nuôi là adopted child (người thành niên đã được nhận nuôi: adoptee); cha mẹ nuôi là adoptive parents, cha mẹ đẻ là birth parents hoặc biological parents. Không dùng foster child: trẻ được chăm sóc thay thế tạm thời, không phát sinh quan hệ cha mẹ – con. Chấm dứt việc nuôi con nuôi dịch là termination of adoption.
Thuật ngữ liên quan
- Nuôi con nuôi — điều kiện, mục đích của việc nhận con nuôi
- Đăng ký nuôi con nuôi — thủ tục làm phát sinh địa vị con nuôi
- Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha mẹ nuôi — chi tiết Điều 653 BLDS
- Cha dượng, mẹ kế và con riêng — quan hệ dễ nhầm với con nuôi
- Hàng thừa kế — vị trí của con nuôi
- Thừa kế thế vị — con nuôi hưởng phần của cha mẹ nuôi đã chết trước
Căn cứ pháp lý
- Luật Nuôi con nuôi số 52/2010/QH12: Điều 3, 11, 13, 24–27 — còn hiệu lực.
- Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13: Điều 5, 68, 78 — còn hiệu lực.
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13: Điều 621, 651–654.
- Nghị định 109/2026/NĐ-CP: Điều 48, 62 — hiệu lực từ 18/5/2026.
Hỏi đáp nhanh
Con nuôi có được thừa kế của cha mẹ đẻ nữa không?
Có. Điều 653 Bộ luật Dân sự cho con nuôi và cha mẹ nuôi thừa kế di sản của nhau, đồng thời còn được thừa kế theo Điều 651, 652 — tức con nuôi vẫn ở hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ đẻ. Việc cha mẹ đẻ hết quyền, nghĩa vụ chăm sóc, cấp dưỡng (khoản 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi) không xóa quan hệ thừa kế.
Con nuôi có được thừa kế của ông bà nội nuôi không?
Có, trong trường hợp thế vị: cha hoặc mẹ nuôi chết trước hoặc cùng lúc với ông bà thì con nuôi hưởng phần mà cha, mẹ nuôi lẽ ra được hưởng (Điều 652, 653 BLDS). Ngoài thế vị, việc con nuôi có thuộc hàng thừa kế thứ hai của ông bà nuôi hay không còn cách hiểu khác nhau vì Điều 651 dùng chữ "cháu ruột"; muốn chắc chắn, ông bà nên lập di chúc.
Đã chấm dứt việc nuôi con nuôi thì hai người có lấy nhau được không?
Không. Luật cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi (điểm d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 2014); vi phạm bị phạt 10–20 triệu đồng (điểm b khoản 2 Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
Nhận nuôi con nuôi dưới 6 tháng tuổi có được nghỉ hưởng chế độ không?
Có. Pháp luật bảo hiểm xã hội cho người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi được nghỉ hưởng chế độ thai sản đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Hồ sơ cần Giấy chứng nhận nuôi con nuôi.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.