Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, nhằm cho đứa trẻ được nuôi dưỡng lâu dài trong môi trường gia đình. Quan hệ này chỉ phát sinh khi việc nuôi con nuôi được đăng ký; nuôi trên thực tế không đăng ký thì không có quyền, nghĩa vụ cha mẹ – con giữa hai bên.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi.
Khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi số 52/2010/QH12 (hiệu lực từ 01/01/2011)
Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.
Điều 2 Luật Nuôi con nuôi 2010
Giải nghĩa dễ hiểu
Ai được nhận làm con nuôi (Điều 8)
- Trẻ em dưới 16 tuổi.
- Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chỉ khi được cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận.
- Người đã thành niên không được nhận làm con nuôi.
Ai được nhận con nuôi (Điều 14)
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện sức khỏe, kinh tế, chỗ ở; có tư cách đạo đức tốt.
- Không được nhận: người đang bị hạn chế quyền cha mẹ, đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, đang chấp hành án tù, chưa được xóa án tích về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm hoặc ngược đãi người thân, mua bán trẻ em.
- Cha dượng, mẹ kế nhận con riêng, cô dì chú cậu bác ruột nhận cháu: miễn điều kiện chênh lệch 20 tuổi và điều kiện sức khỏe, kinh tế, chỗ ở.
Sự đồng ý (Điều 21)
Phải có sự đồng ý của cha mẹ đẻ (hoặc người còn lại, hoặc người giám hộ) và của chính trẻ em từ đủ 09 tuổi. Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý sau khi con sinh ra ít nhất 15 ngày; sự đồng ý không được kèm yêu cầu trả tiền hay lợi ích vật chất.
Hệ quả (Điều 24)
Từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ quyền, nghĩa vụ như cha mẹ và con đẻ; con nuôi cũng có quan hệ với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi. Trừ khi cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi thỏa thuận khác, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, cấp dưỡng, đại diện, quản lý tài sản của con.
Phân biệt nuôi con nuôi với giám hộ
| Tiêu chí | Nuôi con nuôi | Giám hộ |
|---|---|---|
| Quan hệ phát sinh | Cha, mẹ – con | Người giám hộ – người được giám hộ |
| Thời hạn | Lâu dài, bền vững | Đến khi người được giám hộ thành niên hoặc khôi phục năng lực |
| Ông bà với cháu | Bị cấm | Được, ông bà là người giám hộ đương nhiên trong một số trường hợp |
| Thừa kế | Thừa kế hàng thứ nhất của nhau | Không phát sinh quyền thừa kế từ quan hệ giám hộ |
| Thay đổi họ tên trẻ | Có thể theo yêu cầu cha mẹ nuôi | Không |
Ví dụ tình huống
Tình huống 1. Vợ chồng anh Quách Tuấn (41 tuổi) và chị Lò Thị Hiền (38 tuổi) ở Sơn La muốn nhận bé Pao (3 tuổi, mồ côi cả cha mẹ) đang được người dì nuôi tạm. Hồ sơ nộp tại UBND xã nơi bé thường trú ngày 02/3/2026, gồm đơn, căn cước, phiếu lý lịch tư pháp, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, giấy khám sức khỏe, xác nhận hoàn cảnh gia đình; kèm giấy khai sinh, giấy chứng tử cha mẹ của bé và ý kiến đồng ý của người giám hộ (bà dì). Trong 10 ngày UBND lấy xong ý kiến; ngày 20/3/2026 tổ chức đăng ký, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi. Lệ phí 400.000 đồng. Ba năm tiếp theo, cứ sáu tháng vợ chồng anh Tuấn phải báo cáo UBND xã nơi mình thường trú về tình hình của bé (Điều 23).
Tình huống 2. Ông Kha Văn Tài (60 tuổi) muốn nhận cháu nội 10 tuổi làm con nuôi để "hợp thức hóa" việc nuôi cháu. Yêu cầu này bị từ chối vì ông bà nhận cháu làm con nuôi là hành vi bị cấm. Ông có thể làm thủ tục đăng ký giám hộ cho cháu nếu cha mẹ cháu không còn hoặc không đủ điều kiện.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Nơi đăng ký trong nước: UBND cấp xã nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận (Điều 9). Thời hạn giải quyết 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ; lấy ý kiến xong trong 10 ngày; đăng ký trong 20 ngày kể từ khi có ý kiến đồng ý (Điều 19, 20, 22).
- Hồ sơ theo Điều 17, 18 Luật Nuôi con nuôi; thành phần hồ sơ hiện hành được quy định lại tại Nghị định 18/2026/NĐ-CP (hiệu lực 15/01/2026), lập thành 01 bộ.
- Lệ phí (Nghị định 114/2016/NĐ-CP): trong nước 400.000 đồng; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam 9.000.000 đồng; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam 4.500.000 đồng.
- Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: UBND cấp tỉnh nơi trẻ thường trú quyết định, Sở Tư pháp đăng ký; chỉ cho làm con nuôi nước ngoài khi không tìm được gia đình thay thế trong nước (Điều 9, 15, 28).
- Chấm dứt chỉ bằng quyết định của Tòa án khi có căn cứ Điều 25: con nuôi đã thành niên và hai bên tự nguyện chấm dứt; một bên bị kết án vì xâm phạm, ngược đãi bên kia; vi phạm hành vi bị cấm. Con nuôi được lấy lại họ tên cũ.
- Xử phạt khai không đúng sự thật, tẩy xóa giấy tờ để đăng ký nuôi con nuôi: Điều 48 Nghị định 109/2026/NĐ-CP (hiệu lực 18/5/2026).
- Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) đang được xây dựng theo Nghị quyết 123/NQ-CP năm 2026; đến 10/2026 Luật năm 2010 vẫn áp dụng.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Làm giấy khai sinh cho trẻ đứng tên mình là xong việc nhận con nuôi." — Đúng: đó là khai sai sự thật về cha mẹ, có thể bị xử phạt và hủy; phải đăng ký nuôi con nuôi.
- Sai: "Nuôi trẻ từ nhỏ, ai cũng biết là con nuôi thì có quyền thừa kế." — Đúng: từ 01/01/2011 việc nuôi con nuôi chỉ có giá trị khi được đăng ký; trường hợp nuôi thực tế trước 2011 chỉ được đăng ký bổ sung trong 5 năm (đến hết năm 2015) theo Điều 50 — thời hạn này đã hết.
- Sai: "Có thể nhận người 20 tuổi làm con nuôi để lo hương hỏa." — Đúng: người đã thành niên không được nhận làm con nuôi.
- Sai: "Đưa tiền cho mẹ đẻ để đổi lấy sự đồng ý là bình thường." — Đúng: sự đồng ý kèm lợi ích vật chất bị cấm; có dấu hiệu mua bán trẻ em.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Adoption là tương đương trực tiếp; cha mẹ nuôi là adoptive parents, con nuôi là adopted child. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: intercountry adoption — thuật ngữ của Công ước La Hay 1993 mà Việt Nam là thành viên. Không dùng foster care để dịch nuôi con nuôi: foster care là chăm sóc thay thế tạm thời, gần với "gia đình nhận chăm sóc thay thế" hơn.
Thuật ngữ liên quan
- Con nuôi — địa vị pháp lý của người được nhận
- Đăng ký nuôi con nuôi — thủ tục làm phát sinh quan hệ
- Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha mẹ nuôi — hệ quả về di sản
- Giám hộ — giải pháp khi không được nhận con nuôi
- Cha dượng, mẹ kế và con riêng — trường hợp được ưu tiên điều kiện
- Quan hệ giữa cha mẹ và con — nội dung quyền, nghĩa vụ phát sinh
Căn cứ pháp lý
- Luật Nuôi con nuôi số 52/2010/QH12: Điều 2, 3, 8, 9, 13, 14, 17–28, 50 — còn hiệu lực.
- Nghị định 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nuôi con nuôi, sửa đổi bởi Nghị định 24/2019/NĐ-CP, 06/2025/NĐ-CP, 18/2026/NĐ-CP.
- Nghị định 114/2016/NĐ-CP về lệ phí đăng ký nuôi con nuôi — còn hiệu lực.
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Điều 78.
- Bộ luật Dân sự 2015: Điều 653 (thừa kế giữa con nuôi và cha mẹ nuôi).
- Nghị định 109/2026/NĐ-CP: Điều 48 — hiệu lực từ 18/5/2026.
Hỏi đáp nhanh
Người độc thân có được nhận con nuôi không?
Được. Một người có thể làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai vợ chồng (khoản 3 Điều 8). Người độc thân phải tự đáp ứng đủ điều kiện về năng lực, độ tuổi chênh lệch, sức khỏe, kinh tế, chỗ ở và đạo đức.
Ông bà có nhận cháu làm con nuôi được không?
Không. Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi là hành vi bị cấm (khoản 6 Điều 13). Ông bà muốn chăm cháu về mặt pháp lý thì dùng chế định giám hộ.
Nhận con nuôi rồi có được đổi họ tên cho con không?
Được, theo yêu cầu của cha mẹ nuôi; con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên phải đồng ý (khoản 2 Điều 24). Việc thay đổi làm theo thủ tục thay đổi hộ tịch tại cơ quan hộ tịch.
Con nuôi có được thừa kế của cha mẹ nuôi không?
Có. Con nuôi và cha mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản của cha mẹ đẻ (Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015). Con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ nuôi, ngang con đẻ.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.