Quyền tự do cạnh tranh là quyền của doanh nghiệp tự quyết định bán gì, bán giá nào, cho ai, ở đâu, bằng cách nào để giành khách hàng và thị phần, miễn là không vi phạm điều cấm của pháp luật. Quyền này có hai mặt: doanh nghiệp được chủ động cạnh tranh, và được bảo vệ khỏi những ai tìm cách triệt tiêu cạnh tranh, kể cả cơ quan nhà nước.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
1. Doanh nghiệp có quyền tự do cạnh tranh theo quy định của pháp luật. Nhà nước bảo đảm quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh.
Khoản 1 Điều 5 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 (hiệu lực từ 01/7/2019)
Gốc hiến định nằm ở Hiến pháp 2013: "Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm" (Điều 33) và "các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật" (khoản 2 Điều 51). Luật Doanh nghiệp 2020 cụ thể hóa thành quyền tự do kinh doanh ngành, nghề luật không cấm, tự chủ chọn địa bàn, hình thức kinh doanh, tự do tìm kiếm thị trường, khách hàng (khoản 1, 2, 4 Điều 7).
Giải nghĩa dễ hiểu
Nội dung của quyền
- Tự do gia nhập và rút khỏi thị trường: chọn ngành nghề không bị cấm, đáp ứng điều kiện kinh doanh nếu có.
- Tự định giá: giá do doanh nghiệp quyết định, trừ hàng hóa Nhà nước định giá hoặc bình ổn theo Luật Giá.
- Tự chọn khách hàng, đối tác, kênh phân phối: từ chối giao dịch là quyền, trừ khi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền dùng việc từ chối để loại bỏ đối thủ.
- Tự do đổi mới: cải tiến sản phẩm, công nghệ, mô hình kinh doanh, quảng bá.
Giới hạn của quyền
Chữ "theo quy định của pháp luật" ở khoản 1 Điều 5 là giới hạn. Doanh nghiệp không được dùng tự do của mình để: thỏa thuận với đối thủ triệt tiêu cạnh tranh (Điều 11, 12); lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền (Điều 27); thực hiện tập trung kinh tế bị cấm (Điều 30); dùng thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh (Điều 45). Hoạt động cạnh tranh phải trung thực, công bằng, lành mạnh (khoản 2 Điều 5).
Ai có nghĩa vụ tôn trọng quyền này
Ngoài doanh nghiệp khác, Luật Cạnh tranh nhắm thẳng vào cơ quan nhà nước. Khoản 1 Điều 8 cấm cơ quan nhà nước: ép buộc, yêu cầu, khuyến nghị mua bán với doanh nghiệp cụ thể (trừ lĩnh vực độc quyền nhà nước, trường hợp khẩn cấp); phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp; ép hiệp hội hoặc doanh nghiệp liên kết với nhau để hạn chế cạnh tranh; lợi dụng chức vụ can thiệp trái pháp luật vào cạnh tranh. Khoản 2 cấm mọi tổ chức, cá nhân vận động, kêu gọi, ép buộc doanh nghiệp thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh.
Phân biệt quyền tự do cạnh tranh với quyền tự do kinh doanh
| Tiêu chí | Quyền tự do kinh doanh | Quyền tự do cạnh tranh |
|---|---|---|
| Phạm vi | Rộng: thành lập, chọn ngành nghề, tổ chức, huy động vốn, thuê lao động | Hẹp hơn: cách thức giành khách, thị phần với doanh nghiệp khác |
| Căn cứ chính | Điều 33 Hiến pháp, Điều 7 Luật Doanh nghiệp | Khoản 2 Điều 51 Hiến pháp, khoản 1 Điều 5 Luật Cạnh tranh |
| Bị giới hạn bởi | Ngành nghề cấm, ngành nghề có điều kiện | Các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh bị cấm |
| Cơ quan bảo vệ khi bị xâm phạm | Khiếu nại, khởi kiện hành chính | Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Tòa án |
Ví dụ tình huống
Tháng 3/2026, một sở chuyên ngành của tỉnh X gửi công văn "khuyến nghị" các trường học trên địa bàn chỉ mua đồng phục, thiết bị học tập của Công ty cổ phần Hưng Thịnh, viện dẫn "đảm bảo chất lượng đồng bộ". Ba doanh nghiệp may mặc khác ở địa phương mất toàn bộ đơn hàng năm học mới, ước tính 4,5 tỷ đồng.
Công văn này là hành vi khuyến nghị mua hàng hóa của doanh nghiệp cụ thể, bị cấm tại điểm a khoản 1 Điều 8 và có dấu hiệu phân biệt đối xử (điểm b). Các doanh nghiệp gửi thông tin, chứng cứ cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Ủy ban không phạt tiền cơ quan nhà nước, mà yêu cầu sở chấm dứt hành vi và khắc phục hậu quả; cơ quan được yêu cầu phải chấm dứt, khắc phục và bồi thường thiệt hại theo quy định (khoản 1 Điều 113). Song song, doanh nghiệp có thể khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính đối với công văn. Nếu Hưng Thịnh vận động, tác động để có công văn đó, Hưng Thịnh có thể bị phạt 30–50 triệu đồng theo Điều 25 Nghị định 75/2019/NĐ-CP, chưa kể trách nhiệm khác nếu có hối lộ.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Lĩnh vực độc quyền nhà nước (theo danh mục của Nhà nước) là ngoại lệ lớn nhất; doanh nghiệp hoạt động ở đó bị kiểm soát giá, số lượng, điều kiện cung cấp (Điều 28), nhưng phần hoạt động ngoài lĩnh vực độc quyền vẫn chịu Luật Cạnh tranh.
- Trường hợp khẩn cấp theo luật (thiên tai, dịch bệnh) cho phép cơ quan nhà nước yêu cầu mua bán với doanh nghiệp cụ thể.
- Ngành nghề kinh doanh có điều kiện không xâm phạm quyền tự do cạnh tranh nếu điều kiện do luật định và áp dụng như nhau cho mọi doanh nghiệp.
- Văn bản quy phạm có nội dung hạn chế cạnh tranh: Ủy ban có nhiệm vụ phát hiện và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản không phù hợp với pháp luật cạnh tranh.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: tự do cạnh tranh nghĩa là muốn làm gì để thắng cũng được. Đúng: quyền chỉ tồn tại "theo quy định của pháp luật"; thủ đoạn trái thiện chí, trung thực bị cấm.
- Sai: chỉ doanh nghiệp mới có thể xâm phạm quyền tự do cạnh tranh. Đúng: Luật Cạnh tranh có hẳn Điều 8 cấm cơ quan nhà nước cản trở cạnh tranh.
- Sai: doanh nghiệp có quyền từ chối bán hàng cho bất kỳ ai. Đúng: đúng với doanh nghiệp bình thường, nhưng doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền từ chối giao dịch để ngăn cản, loại bỏ đối thủ có thể bị coi là lạm dụng.
- Sai: "khuyến nghị" thì không bị cấm vì không bắt buộc. Đúng: điểm a khoản 1 Điều 8 cấm cả ép buộc, yêu cầu lẫn khuyến nghị.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Dịch là freedom to compete hoặc right to compete freely; nguyên tắc chung là freedom of competition. Quyền tự do kinh doanh dịch là freedom of business hoặc freedom to conduct a business. Hành vi cản trở cạnh tranh của cơ quan nhà nước được giới nghiên cứu gọi là state-imposed restraints on competition hay administrative monopoly (thuật ngữ của luật Trung Quốc).
Thuật ngữ liên quan
- Cạnh tranh lành mạnh — chuẩn mực khi thực hiện quyền tự do cạnh tranh
- Pháp luật cạnh tranh — hệ thống quy định bảo đảm quyền này
- Hành vi hạn chế cạnh tranh — giới hạn đối với doanh nghiệp
- Vị trí độc quyền — chủ thể bị kiểm soát chặt hơn
- Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia — cơ quan yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở cạnh tranh
- Bồi thường nhà nước — đường đòi bồi thường khi cơ quan nhà nước cản trở cạnh tranh
Căn cứ pháp lý
- Hiến pháp năm 2013 — Điều 33, khoản 2 Điều 51.
- Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14 — Điều 2, 5, 8, 28, 113.
- Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 (sửa đổi 2022, 2025) — Điều 7.
- Nghị định 75/2019/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 102/2026/NĐ-CP — Điều 3, 25.
Hỏi đáp nhanh
Chính quyền địa phương yêu cầu chỉ mua vật liệu của một doanh nghiệp cụ thể có đúng không?
Không, trừ hàng hóa thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước hoặc trường hợp khẩn cấp theo luật. Ép buộc, yêu cầu, khuyến nghị mua hàng của doanh nghiệp cụ thể là hành vi bị cấm tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Cạnh tranh. Doanh nghiệp bị ảnh hưởng có thể cung cấp thông tin cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia để Ủy ban yêu cầu cơ quan đó chấm dứt; thiệt hại thì đòi theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều khoản không cạnh tranh trong hợp đồng có xâm phạm quyền tự do cạnh tranh không?
Không mặc nhiên vô hiệu. Giữa doanh nghiệp với nhau, điều khoản hạn chế cạnh tranh có thể bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nếu gây tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể. Với người lao động, Bộ luật Lao động cho phép thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ (khoản 2 Điều 21); điều khoản cấm làm cho đối thủ sau khi nghỉ việc còn nhiều tranh luận về hiệu lực vì hạn chế quyền làm việc.
Doanh nghiệp nhà nước có được ưu tiên trong cạnh tranh không?
Không. Luật Cạnh tranh áp dụng cho cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích và doanh nghiệp trong lĩnh vực độc quyền nhà nước (khoản 1 Điều 2). Riêng trong lĩnh vực độc quyền nhà nước, hoạt động được Nhà nước kiểm soát theo Điều 28, nhưng ngoài phạm vi đó họ cạnh tranh như mọi doanh nghiệp khác.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.