Phí bảo hiểm là khoản tiền bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm để đổi lấy cam kết bồi thường, trả tiền khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Mức phí do các bên thỏa thuận theo biểu phí của sản phẩm, riêng bảo hiểm bắt buộc thì do Chính phủ ấn định.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô theo quy định của pháp luật hoặc do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Khoản 28 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15 (hiệu lực từ 01/01/2023)
Giải nghĩa dễ hiểu
Phí được tính từ đâu
Phí phản ánh xác suất rủi ro và quy mô cam kết: tuổi, nghề nghiệp, sức khỏe của người được bảo hiểm; giá trị và mục đích sử dụng tài sản; số tiền bảo hiểm; thời hạn; mức khấu trừ. Với bảo hiểm nhân thọ, phí còn gồm phần tích lũy, nên một phần phí quay lại thành giá trị hoàn lại hoặc giá trị tài khoản. Biểu phí, quy tắc của từng sản phẩm doanh nghiệp phải công khai trên trang thông tin điện tử (điểm a khoản 2 Điều 119 Luật).
Hai cơ chế xác định mức phí
- Theo thỏa thuận: phần lớn sản phẩm tự nguyện. Khi yếu tố tính phí thay đổi làm rủi ro tăng, doanh nghiệp được tính lại phí cho thời gian còn lại; rủi ro giảm thì bên mua được yêu cầu giảm phí (Điều 23).
- Theo quy định của pháp luật: bảo hiểm bắt buộc. Ví dụ phí trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới nằm ở Phụ lục I Nghị định 67/2023/NĐ-CP; doanh nghiệp chỉ được tăng, giảm tối đa 15% dựa trên lịch sử bồi thường của xe hoặc lịch sử gây tai nạn của chủ xe (khoản 2 Điều 8).
Hạn đóng phí
Bảo hiểm phi nhân thọ đóng khi giao kết; nếu thỏa thuận cho nợ thì đóng một lần không quá 30 ngày kể từ ngày bắt đầu thời hạn bảo hiểm, đóng theo kỳ thì kỳ đầu cũng không quá 30 ngày, và trong mọi trường hợp không vượt quá thời hạn bảo hiểm (Điều 26 Thông tư 67/2023/TT-BTC). Bảo hiểm nhân thọ đóng một lần hoặc nhiều lần, có 60 ngày gia hạn khi lỡ kỳ (khoản 2 Điều 37 Luật).
Thuế trên phí
Mức phí trong Phụ lục I Nghị định 67/2023/NĐ-CP ghi rõ "chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng"; bảo hiểm phi nhân thọ chịu thuế suất 10%, còn bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng.
Phân biệt phí bảo hiểm với số tiền bảo hiểm
| Tiêu chí | Phí bảo hiểm | Số tiền bảo hiểm |
|---|---|---|
| Bản chất | Khoản bên mua trả cho doanh nghiệp | Mức cam kết doanh nghiệp có thể phải trả |
| Hướng dòng tiền | Từ bên mua sang doanh nghiệp, chắc chắn xảy ra | Từ doanh nghiệp sang người được bảo hiểm, người thụ hưởng, chỉ khi có sự kiện bảo hiểm |
| Độ lớn điển hình | Vài phần nghìn đến vài phần trăm số tiền bảo hiểm mỗi năm | Bằng giá trị tài sản, hoặc khoản bảo vệ chọn (ví dụ 1 tỷ đồng) |
| Khi không trả đúng hạn | Hợp đồng có thể bị đơn phương chấm dứt | Doanh nghiệp chậm trả phải chịu lãi (khoản 2 Điều 31) |
| Căn cứ chính | Khoản 28 Điều 4, Điều 37 Luật | Điều 45 Luật; Điều 10 Thông tư 67/2023/TT-BTC |
Ví dụ tình huống
Tình huống 1. Anh Hà Minh Tuấn (tỉnh Bắc Ninh) có ô tô 5 chỗ không kinh doanh vận tải, mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự 2 năm từ 01/9/2026. Phí năm theo Phụ lục I là 437.000 đồng; phí cho thời hạn khác 1 năm tính bằng phí năm × số ngày / 365, nên 730 ngày là 874.000 đồng, cộng 10% thuế GTGT là 961.400 đồng. Xe chưa từng phát sinh bồi thường, doanh nghiệp có thể giảm tối đa 15% phí, nhưng không được bán thấp hơn mức đó.
Tình huống 2. Bà Nông Thị Hằng đóng phí bảo hiểm nhân thọ theo năm, kỳ đến hạn 15/4/2026 nhưng chưa đóng. Thời gian gia hạn 60 ngày kéo đến hết 14/6/2026; nếu bà gặp tai nạn ngày 01/6/2026, doanh nghiệp vẫn phải trả tiền bảo hiểm (có thể khấu trừ kỳ phí còn nợ). Sau 14/6/2026, doanh nghiệp có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng; trong 02 năm kể từ ngày bị chấm dứt bà vẫn có thể thỏa thuận khôi phục bằng cách đóng đủ phí còn thiếu. Doanh nghiệp không được kiện đòi khoản phí này.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Không đóng phí phi nhân thọ: doanh nghiệp được đơn phương chấm dứt, nhưng bên mua vẫn phải đóng đủ phí đến thời điểm chấm dứt (điểm a khoản 1 Điều 27). Quy định này không áp dụng cho nhân thọ, sức khỏe cá nhân.
- Hoàn phí: có trong các trường hợp hủy trong 21 ngày cân nhắc (Điều 35), doanh nghiệp cố ý cung cấp thông tin sai (khoản 3 Điều 22, hoàn toàn bộ), hợp đồng trên giá trị do vô ý (Điều 47), nhiều hợp đồng bắt buộc trùng cho một xe (hoàn 100% với các hợp đồng sau, khoản 9 Điều 12 Nghị định 67/2023/NĐ-CP).
- Gia hạn phi nhân thọ: chỉ được cho gia hạn nếu ghi trong hợp đồng và bên mua có tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán phí (khoản 3 Điều 26 Thông tư 67/2023/TT-BTC).
- Phí nộp qua đại lý: đại lý được ủy quyền thu phí thì bên mua coi như đã đóng cho doanh nghiệp. Nên yêu cầu hóa đơn, biên nhận do chính doanh nghiệp phát hành; doanh nghiệp có nghĩa vụ cấp hóa đơn thu phí (điểm d khoản 2 Điều 20 Luật).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Phí bảo hiểm xe máy là 66.000 đồng ở mọi nơi, không được rẻ hơn." — Đúng: 66.000 đồng là mức chuẩn có thuế cho xe từ 50 cc; doanh nghiệp được giảm tối đa 15% theo lịch sử bồi thường, ngược lại cũng được tăng tối đa 15%.
- Sai: "Đã đóng phí nhân thọ nhiều năm, hủy thì được trả lại đủ." — Đúng: chỉ nhận giá trị hoàn lại, những năm đầu thường rất thấp vì phí đã bù chi phí phát hành, hoa hồng và phí rủi ro.
- Sai: "Chưa đóng phí thì hợp đồng chưa có hiệu lực." — Đúng: thời điểm hiệu lực do hợp đồng quy định; phi nhân thọ có thể có hiệu lực trước khi thanh toán trong hạn 30 ngày theo thỏa thuận.
- Sai: "Phí bảo hiểm sức khỏe cố định suốt đời." — Đúng: sản phẩm ngắn hạn tái tục hằng năm thường điều chỉnh phí theo tuổi.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
insurance premium (gọn là premium) là cách dịch chuẩn. Không dịch thành insurance fee, vì fee trong tiếng Anh pháp lý gợi phí dịch vụ hành chính. Thời gian gia hạn đóng phí là grace period; khôi phục hiệu lực là reinstatement; hợp đồng mất hiệu lực vì không đóng phí là lapse.
Thuật ngữ liên quan
- Hợp đồng bảo hiểm — văn bản ghi mức phí và phương thức đóng.
- Bên mua bảo hiểm — chủ thể có nghĩa vụ đóng phí.
- Số tiền bảo hiểm — căn cứ chủ yếu để tính phí.
- Bảo hiểm bắt buộc — loại có mức phí do Chính phủ quy định.
- Thời hạn bảo hiểm — khoảng thời gian phí đã đóng "mua" được.
- Đại lý bảo hiểm — người thường thu phí thay doanh nghiệp.
Căn cứ pháp lý
- Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15 (sửa đổi bởi Luật 139/2025/QH15): khoản 28 Điều 4; các điều 20, 22, 23, 26, 27, 35, 37, 47, 119.
- Nghị định 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc (sửa đổi bởi Nghị định 220/2026/NĐ-CP từ 01/7/2026): Điều 8, Điều 11, Điều 12, Phụ lục I.
- Thông tư 67/2023/TT-BTC: Điều 26 về thanh toán phí bảo hiểm phi nhân thọ.
Hỏi đáp nhanh
Bảo hiểm xe máy bắt buộc giá bao nhiêu?
Theo Phụ lục I Nghị định 67/2023/NĐ-CP, phí năm (chưa gồm thuế GTGT) là 55.000 đồng cho mô tô hai bánh dưới 50 cc và xe máy điện, 60.000 đồng cho mô tô hai bánh từ 50 cc trở lên. Cộng 10% thuế GTGT thành 60.500 và 66.000 đồng. Doanh nghiệp được điều chỉnh tăng, giảm tối đa 15% theo lịch sử bồi thường của xe.
Quên đóng phí bảo hiểm nhân thọ vài tháng thì hợp đồng có mất luôn không?
Hợp đồng đóng phí nhiều kỳ có 60 ngày gia hạn kể từ kỳ phí chưa đóng (khoản 2 Điều 37). Hết hạn gia hạn, doanh nghiệp được đơn phương chấm dứt, nhưng trong 02 năm kể từ ngày chấm dứt hai bên vẫn có thể thỏa thuận khôi phục khi bên mua đóng đủ phí còn thiếu. Nhiều sản phẩm có điều khoản tự động tạm ứng từ giá trị hoàn lại để duy trì hợp đồng — phải được bên mua đồng ý từ trước.
Hủy hợp đồng bảo hiểm ô tô giữa chừng có được trả lại phí không?
Bảo hiểm vật chất xe (tự nguyện) thường hoàn phí cho thời gian còn lại theo tỷ lệ ghi trong quy tắc, sau khi trừ chi phí. Riêng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, Nghị định 67/2023/NĐ-CP chỉ buộc hoàn phí cho thời hạn còn lại khi xe bị thu hồi giấy đăng ký, biển số (Điều 11); bán xe thì chủ cũ có quyền chấm dứt hợp đồng (khoản 3 Điều 9).
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.