Loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là những trường hợp mà dù biến cố xảy ra trong thời hạn bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn không phải bồi thường hoặc trả tiền. Có hai nguồn: điều khoản loại trừ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, và loại trừ do luật hoặc nghị định quy định trực tiếp, nhất là với bảo hiểm bắt buộc.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm.
Khoản 1 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15 (hiệu lực từ 01/01/2023)
Giải nghĩa dễ hiểu
Điều kiện để điều khoản loại trừ có hiệu lực với khách hàng
Khoản 2 Điều 19 đặt ba yêu cầu cộng dồn: điều khoản phải ghi rõ trong hợp đồng; doanh nghiệp phải giải thích rõ ràng, đầy đủ; và phải có bằng chứng xác nhận bên mua đã được giải thích và hiểu rõ khi giao kết. Bằng chứng thường là chữ ký vào trang tóm tắt quyền lợi và loại trừ, hoặc bản ghi âm tư vấn (bắt buộc với bảo hiểm liên kết đầu tư bán qua đại lý, Điều 53 Thông tư 67/2023/TT-BTC). Khi tranh chấp, gánh nặng chứng minh việc đã giải thích nằm ở doanh nghiệp.
Loại trừ do luật quy định cho bảo hiểm nhân thọ, sức khỏe
Điều 40 liệt kê: chết do tự tử trong 02 năm kể từ ngày nộp phí đầu tiên hoặc ngày khôi phục hiệu lực; chết do lỗi cố ý của bên mua hoặc người thụ hưởng; thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của chính người được bảo hiểm, bên mua hoặc người thụ hưởng; chết do bị thi hành án tử hình; các trường hợp khác theo thỏa thuận. Có nhiều người thụ hưởng mà chỉ một người cố ý gây ra cái chết thì những người còn lại vẫn được nhận (khoản 2 Điều 40).
Loại trừ trong bảo hiểm tài sản
Tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc bản chất vốn có của tài sản không được bồi thường, trừ khi có thỏa thuận khác (Điều 50). Bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc loại trừ, chẳng hạn, động đất, núi lửa, tài sản tự lên men hoặc tự tỏa nhiệt, sét đánh trực tiếp nhưng không gây cháy, nổ (khoản 2 Điều 25 Nghị định 67/2023/NĐ-CP).
Loại trừ trong bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe
Khoản 2 Điều 7 Nghị định 67/2023/NĐ-CP liệt kê 8 nhóm: cố ý gây thiệt hại; lái xe cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự; lái xe chưa đủ tuổi, không có hoặc dùng giấy phép lái xe không hợp lệ, hết hạn, không phù hợp; thiệt hại gián tiếp như giảm giá trị thương mại; thiệt hại tài sản khi người lái có cồn vượt mức hoặc dùng ma túy; tài sản bị mất cắp, bị cướp trong tai nạn; tài sản đặc biệt như vàng, đá quý, giấy tờ có giá, đồ cổ, thi hài; chiến tranh, khủng bố, động đất. Người lái bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe có thời hạn được coi là không có giấy phép.
Phân biệt loại trừ trách nhiệm với "không thuộc phạm vi bảo hiểm"
| Tiêu chí | Loại trừ trách nhiệm bảo hiểm | Không thuộc phạm vi bảo hiểm |
|---|---|---|
| Bản chất | Biến cố thuộc loại rủi ro được bảo hiểm nhưng bị loại ra vì một tình tiết cụ thể | Biến cố không phải rủi ro hợp đồng nhận bảo hiểm |
| Ví dụ | Tai nạn giao thông khi lái xe không có giấy phép | Xe bị ngập nước trong khi hợp đồng không mua quyền lợi thủy kích |
| Yêu cầu hình thức | Phải ghi rõ, giải thích và có bằng chứng bên mua đã hiểu (khoản 2 Điều 19) | Thể hiện qua phần quyền lợi, phạm vi |
| Chỗ tranh chấp | Doanh nghiệp đã giải thích chưa, tình tiết loại trừ có thật không | Cách hiểu phạm vi; điều khoản mơ hồ được hiểu có lợi cho bên mua (Điều 24) |
Ví dụ tình huống
Tình huống 1. Đêm 08/8/2026, ông Mạc Văn Toàn lái ô tô với nồng độ cồn vượt mức, tông xe máy của anh Lò Văn Quý. Anh Quý gãy chân, chi phí điều trị và thu nhập bị mất được xác định 60 triệu đồng; xe máy hỏng 12 triệu đồng. Doanh nghiệp bảo hiểm bắt buộc của ông Toàn phải chi trả phần sức khỏe theo bảng mức trả tiền ở Phụ lục VI Nghị định 67/2023/NĐ-CP (trong giới hạn 150 triệu đồng/người), nhưng được từ chối 12 triệu đồng tiền xe vì loại trừ ở điểm đ khoản 2 Điều 7. Ông Toàn tự bồi thường phần xe và phần chênh nếu thiệt hại sức khỏe thực tế vượt mức bảo hiểm trả.
Tình huống 2. Anh Kiều Đức Phong mua bảo hiểm nhân thọ, nộp phí đầu tiên ngày 01/02/2025, chết do tự tử ngày 15/11/2026. Vì chưa đủ 02 năm (mốc 01/02/2027), doanh nghiệp không trả số tiền bảo hiểm 800 triệu đồng mà trả giá trị hoàn lại hoặc toàn bộ phí đã đóng sau khi trừ chi phí hợp lý. Anh Phong vừa là bên mua vừa là người được bảo hiểm và đã chết, nên khoản tiền trả lại được giải quyết theo pháp luật về thừa kế (khoản 3 Điều 40).
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Ngoại lệ chậm thông báo: có bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm bên mua chậm báo sự kiện thì không được áp điều khoản loại trừ về chậm thông báo (khoản 3 Điều 19).
- Bỏ chạy nhưng đã bồi thường: lái xe bỏ chạy nhưng sau đó đã thực hiện trách nhiệm dân sự thì không thuộc loại trừ (điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định 67/2023/NĐ-CP).
- Bảo hiểm bắt buộc không được tự thêm loại trừ: điều kiện bảo hiểm do nghị định quy định; doanh nghiệp chỉ được mở rộng quyền lợi cho khách, không được thu hẹp bằng loại trừ riêng.
- Khi bị từ chối: yêu cầu văn bản nêu lý do (điểm e khoản 2 Điều 20), đối chiếu từng điều kiện của điều khoản loại trừ và hồ sơ giao kết. Không đồng ý thì khiếu nại doanh nghiệp, phản ánh Bộ Tài chính, hoặc khởi kiện trong thời hiệu 03 năm (Điều 429 Bộ luật Dân sự).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: "Có cồn là bảo hiểm không trả gì." — Đúng: với bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, chỉ thiệt hại tài sản bị loại trừ; thiệt hại về người vẫn được trả.
- Sai: "Đã ký hợp đồng thì mọi điều khoản loại trừ đều ràng buộc." — Đúng: thiếu bằng chứng đã giải thích và khách đã hiểu, doanh nghiệp khó viện dẫn điều khoản đó.
- Sai: "Bằng lái hết hạn vài ngày vẫn được bồi thường." — Đúng: dùng giấy phép lái xe hết hạn tại thời điểm tai nạn là trường hợp loại trừ.
- Sai: "Tự tử là không bao giờ được trả." — Đúng: loại trừ theo luật chỉ trong 02 năm đầu; trong 02 năm đó vẫn được hoàn giá trị hoàn lại hoặc phí.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
exclusion clause hoặc exclusion là cách dịch chuẩn; danh sách trong đơn bảo hiểm thường ghi General Exclusions. Không dịch thành exemption clause — trong luật hợp đồng Anh, chữ này chỉ điều khoản miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, khác bản chất. Thời hạn loại trừ tự tử 02 năm tương ứng suicide clause.
Thuật ngữ liên quan
- Sự kiện bảo hiểm — biến cố bị loại trừ không còn là sự kiện được chi trả.
- Bồi thường bảo hiểm — loại trừ là căn cứ chính để từ chối bồi thường.
- Hợp đồng bảo hiểm — nơi điều khoản loại trừ phải được ghi rõ.
- Bảo hiểm xe cơ giới — lĩnh vực có danh sách loại trừ do nghị định quy định.
- Giấy phép lái xe — giấy phép không hợp lệ là trường hợp loại trừ phổ biến.
- Nghĩa vụ kê khai trung thực — vi phạm dẫn tới hủy hợp đồng, khác với loại trừ.
Căn cứ pháp lý
- Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15 (sửa đổi bởi Luật 139/2025/QH15): Điều 19, Điều 20, Điều 24, Điều 40, Điều 50.
- Nghị định 67/2023/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 105/2025/NĐ-CP và Nghị định 220/2026/NĐ-CP): Điều 7, Điều 25, Phụ lục VI.
- Thông tư 67/2023/TT-BTC: Điều 11, Điều 53.
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13: Điều 429.
Hỏi đáp nhanh
Lái xe có nồng độ cồn gây tai nạn thì bảo hiểm bắt buộc có trả cho người bị thương không?
Có. Điểm đ khoản 2 Điều 7 Nghị định 67/2023/NĐ-CP chỉ loại trừ thiệt hại đối với tài sản khi người lái có nồng độ cồn vượt mức hoặc dùng ma túy. Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người bị nạn vẫn được bồi thường trong giới hạn 150 triệu đồng/người/vụ; người lái vẫn bị xử phạt và tự chịu phần tài sản.
Công ty bảo hiểm từ chối chi trả mà chỉ gọi điện báo thì có đúng không?
Không đúng. Doanh nghiệp phải giải thích bằng văn bản lý do từ chối (điểm e khoản 2 Điều 20 Luật). Văn bản này cũng là mốc để tính thời hiệu khởi kiện và là tài liệu cần có khi khiếu nại lên Bộ Tài chính hoặc khởi kiện.
Người được bảo hiểm tự tử thì gia đình có nhận được gì không?
Nếu tự tử trong 02 năm kể từ ngày nộp phí đầu tiên hoặc ngày khôi phục hiệu lực, doanh nghiệp không trả tiền bảo hiểm nhưng phải trả cho bên mua giá trị hoàn lại hoặc toàn bộ phí đã đóng sau khi trừ chi phí hợp lý (khoản 3 Điều 40). Sau 02 năm, tự tử không còn là trường hợp loại trừ theo luật, trừ khi hợp đồng có thỏa thuận khác hợp lệ.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.