Người không được quyền hưởng di sản là người lẽ ra được thừa kế nhưng bị pháp luật tước quyền vì một trong bốn hành vi nặng. Việc tước quyền xảy ra theo luật, không cần người để lại di sản viết ra; ngược lại, chỉ người để lại di sản mới "tha" được bằng cách vẫn cho hưởng trong di chúc.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. 2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
Điều 621 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (hiệu lực từ 01/01/2017).
Giải nghĩa dễ hiểu
Nhóm cần bản án và nhóm không cần
Điểm a và c đòi hỏi người đó bị kết án, tức có bản án hình sự có hiệu lực. Các tội thường gặp: giết người (Điều 123 BLHS), cố ý gây thương tích (Điều 134), hành hạ người khác (Điều 140), ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu (Điều 185), làm nhục người khác (Điều 155), vu khống (Điều 156). Bị xử phạt hành chính về bạo lực gia đình không phải là "bị kết án".
Điểm b và d không cần bản án: Tòa án dân sự tự đánh giá chứng cứ khi giải quyết tranh chấp thừa kế.
"Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng"
Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con, giữa vợ và chồng, giữa ông bà và cháu, anh chị em được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình. "Nghiêm trọng" không được định lượng; thực tiễn xét xử cân nhắc: người để lại di sản có thật sự cần được nuôi dưỡng không, người có nghĩa vụ có điều kiện không, sự bỏ mặc kéo dài bao lâu, hậu quả ra sao. Người đã bị kết án về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 186 BLHS) gần như chắc chắn thuộc điểm này.
Gian dối về di chúc phải có mục đích
Điểm d đòi hỏi mục đích hưởng di sản trái ý chí người để lại di sản: vô tình làm mất di chúc không thuộc, cố ý giấu bản di chúc bất lợi cho mình thì thuộc.
Ngoại lệ "tha thứ"
Người để lại di sản biết hành vi mà vẫn lập di chúc cho hưởng thì người đó được hưởng theo di chúc (khoản 2). Không có di chúc thì không có ngoại lệ: lời nói miệng "bố đã tha cho nó rồi" không làm phục hồi quyền thừa kế theo pháp luật.
Phân biệt không được quyền hưởng, bị truất quyền và từ chối nhận di sản
| Tiêu chí | Không được quyền hưởng | Bị truất quyền hưởng | Từ chối nhận di sản |
|---|---|---|---|
| Căn cứ | Điều 621 | Khoản 1 Điều 626 | Điều 620 |
| Ai quyết định | Luật; Tòa xác định khi có tranh chấp | Người lập di chúc | Chính người thừa kế |
| Cần lý do | Phải có một trong bốn hành vi | Không cần nêu lý do | Không cần, trừ khi nhằm trốn nợ |
| Phần bắt buộc theo Điều 644 | Mất | Vẫn được nếu thuộc diện Điều 644 | Mất |
| Có thể "gỡ" | Chỉ bằng di chúc của người để lại di sản | Người lập sửa, hủy di chúc | Không rút lại sau khi đã chia |
Ví dụ tình huống
Tình huống 1. Năm 2023, anh Đặng Văn Tú bị Tòa án tuyên phạt 2 năm tù về tội cố ý gây thương tích cho chính cha mình là ông Đặng Văn Phúc. Ông Phúc mất ngày 10/5/2026 tại tỉnh Phú Thọ, không di chúc; vợ ông mất trước. Di sản 2,4 tỷ đồng. Ông có ba con: Tú, Hằng, Hiếu.
- Anh Tú thuộc điểm a khoản 1 Điều 621: không được hưởng di sản.
- Di sản chia cho chị Hằng và anh Hiếu, mỗi người 1,2 tỷ đồng (khoản 2, 3 Điều 651 tính trên những người còn quyền hưởng).
- Con của anh Tú không được nhận thay, vì thừa kế thế vị chỉ đặt ra khi cha hoặc mẹ của cháu chết trước hoặc cùng thời điểm với ông Phúc (Điều 652).
- Nếu năm 2025 ông Phúc đã lập di chúc, biết rõ vụ án mà vẫn để cho anh Tú một phần, anh Tú được hưởng phần đó theo khoản 2 Điều 621.
Tình huống 2. Bà Trần Thị Mến mất ngày 02/3/2026. Chị Thu, con gái, giữ bản di chúc tự viết của mẹ để lại nhà cho em trai, nhưng không đưa ra, mà đề nghị chia theo pháp luật. Năm 2027 người em tìm được bản di chúc trong tủ của chị Thu. Nếu chứng minh được chị cố ý che giấu để hưởng di sản, Tòa xác định chị thuộc điểm d, mất quyền hưởng cả phần lẽ ra được theo pháp luật.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Cách viện dẫn: người thừa kế khác yêu cầu Tòa bác bỏ quyền thừa kế của người vi phạm. Thời hiệu là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 2 Điều 623).
- Tại công chứng: công chứng viên không có thẩm quyền phán xét điểm b, d. Nếu người bị cho là không được hưởng vẫn có tên trong hồ sơ và có người phản đối, việc công chứng văn bản phân chia di sản sẽ bị dừng, các bên phải ra Tòa.
- Phần di sản của người không được hưởng theo di chúc được chia theo pháp luật (điểm c khoản 2 Điều 650); trong thừa kế theo pháp luật, người cùng hàng còn lại hưởng, không còn ai thì đến hàng sau (khoản 3 Điều 651).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: cha mẹ tuyên bố "từ mặt" con là con mất quyền thừa kế. — Đúng: lời từ mặt không có giá trị; muốn loại con thì lập di chúc truất quyền, hoặc con phải thuộc một trong bốn trường hợp của Điều 621.
- Sai: cãi vã, xúc phạm cha mẹ là đủ để mất quyền. — Đúng: xâm phạm danh dự, nhân phẩm phải nghiêm trọng và đã bị kết án.
- Sai: người bị kết án vẫn đòi được phần bắt buộc vì là con chưa thành niên. — Đúng: khoản 2 Điều 644 loại họ khỏi phần bắt buộc.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Dân luật dùng khái niệm unworthiness to inherit (Pháp: "indignité successorale", Đức: "Erbunwürdigkeit"); người thuộc diện này có thể gọi là unworthy heir. Ở hệ common law, gần nhất là slayer rule (kẻ giết người không được hưởng di sản của nạn nhân), nhưng phạm vi hẹp hơn nhiều so với Điều 621. Không nên dịch là disinheritance, vì từ này chỉ việc người lập di chúc truất quyền.
Thuật ngữ liên quan
- Từ chối nhận di sản — mất quyền do chính người thừa kế lựa chọn
- Người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc — mất phần bắt buộc nếu thuộc Điều 621
- Thừa kế thế vị — không áp dụng cho con của người còn sống bị tước quyền
- Nghĩa vụ nuôi dưỡng — vi phạm nghiêm trọng là căn cứ tước quyền
- Bạo lực gia đình — hành vi có thể dẫn tới bản án và mất quyền
- Thời hiệu thừa kế — 10 năm để yêu cầu bác bỏ quyền
- Di sản thừa kế không người nhận — khi không ai còn quyền hưởng
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, Điều 620, 621, 623, 626, 644, 650–652 — còn hiệu lực.
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi 2017, 2025), Điều 123, 134, 140, 155, 156, 185, 186.
- Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 — các quy định về nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng.
Hỏi đáp nhanh
Con không chăm sóc cha mẹ lúc già yếu có bị mất quyền thừa kế không?
Chỉ khi hành vi đó là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng (điểm b khoản 1 Điều 621), ví dụ có điều kiện mà bỏ mặc cha mẹ ốm đau không ai chăm, để cha mẹ lâm vào cảnh túng quẫn. Ít thăm nom, mâu thuẫn tình cảm thường không đủ. Trường hợp này không cần bản án hình sự; người thừa kế khác phải chứng minh trước Tòa án.
Đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích thì có được hưởng di sản lại không?
Luật không quy định trường hợp này. Điểm a, c khoản 1 Điều 621 dùng cụm "người bị kết án", không gắn với việc còn hay hết án tích; nhiều ý kiến cho rằng xóa án tích không khôi phục quyền hưởng di sản. Cách chắc chắn để người đó được hưởng là người để lại di sản biết hành vi mà vẫn lập di chúc cho hưởng (khoản 2 Điều 621).
Người không được hưởng di sản có được phần bắt buộc theo Điều 644 không?
Không. Khoản 2 Điều 644 loại trừ người thuộc khoản 1 Điều 621 khỏi diện được hưởng hai phần ba suất thừa kế, dù họ là vợ, chồng, cha mẹ hay con chưa thành niên của người chết.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.