Lừa đảo trên không gian mạng là hành vi dùng thủ đoạn gian dối thông qua mạng Internet, mạng viễn thông, mạng xã hội, ứng dụng hoặc thiết bị điện tử để chiếm đoạt tiền, tài sản của người khác. Đây không phải tên một tội danh riêng: tùy thủ đoạn, hành vi bị xử lý theo Điều 174 hoặc Điều 290 Bộ luật Hình sự.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Pháp luật không có định nghĩa "lừa đảo trên không gian mạng". Hai điều luật trực tiếp điều chỉnh:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…
Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, sửa đổi bởi Luật 12/2017/QH14 và Luật 86/2025/QH15
1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…
Khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự (cùng văn bản)
Giải nghĩa dễ hiểu
Các kịch bản phổ biến
- Giả danh công an, viện kiểm sát, cơ quan thuế, điện lực gọi điện báo "liên quan vụ án", "cập nhật định danh", dẫn cài ứng dụng giả rồi chiếm quyền điện thoại.
- Tuyển cộng tác viên làm nhiệm vụ "chốt đơn" trả hoa hồng, ban đầu trả thật vài trăm nghìn, sau đó đòi nạp ngày càng nhiều.
- Trang web, tài khoản mạng xã hội giả mạo ngân hàng, sàn thương mại điện tử, hãng hàng không để lấy mật khẩu, mã OTP.
- Rủ đầu tư tiền ảo, ngoại hối trên sàn không phép, "cam kết lãi" vài phần trăm mỗi ngày.
- Chiếm tài khoản mạng xã hội của người quen rồi nhắn vay tiền gấp.
Điều 174 hay Điều 290
Điểm cốt lõi là ai bấm chuyển tiền. Nếu kẻ gian lừa để bị hại tự nguyện giao tiền — tin là nộp tiền "xác minh", tin là đầu tư — thì đó là thủ đoạn gian dối của Điều 174, mạng chỉ là phương tiện liên lạc. Nếu kẻ gian tự lấy tiền bằng cách dùng thông tin thẻ, truy cập trái phép tài khoản, làm thẻ giả, hoặc lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh đa cấp, chứng khoán qua mạng thì là Điều 290. Điều 290 chỉ áp dụng khi hành vi không thuộc Điều 173, 174 — điều luật tự loại trừ, nên không bị xử hai tội cho cùng một hành vi.
Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội ở Điều 290
| Tiêu chí | Điều 174 | Điều 290 |
|---|---|---|
| Thủ đoạn | Gian dối khiến bị hại tự giao tài sản | Dùng mạng, phương tiện điện tử để tự chiếm đoạt: thông tin thẻ, truy cập tài khoản, thẻ giả, lừa đảo trong thương mại điện tử… |
| Ngưỡng định tội | Từ 2 triệu đồng, hoặc dưới mức đó kèm tình tiết như đã bị xử phạt, kết án | Không nêu mức tối thiểu ở khoản 1 |
| Chiếm đoạt 200 – dưới 500 triệu đồng | Tù 07–15 năm | Tù 07–15 năm |
| Từ 500 triệu đồng trở lên | Tù 12–20 năm hoặc chung thân | Tù 12–20 năm |
| Hình phạt bổ sung | Phạt tiền 10–100 triệu đồng, cấm hành nghề, tịch thu tài sản | Phạt tiền 20–100 triệu đồng, cấm hành nghề, tịch thu tài sản |
Ví dụ tình huống
Ngày 12/9/2026, bà Nguyễn Thị Hạnh, 62 tuổi, ở phường Thủ Dầu Một, TP. Hồ Chí Minh, nhận cuộc gọi của người xưng là cán bộ công an phường, nói bà "liên quan đường dây rửa tiền", yêu cầu chuyển 380 triệu đồng vào "tài khoản tạm giữ" để chứng minh nguồn tiền. Tiền vào tài khoản đứng tên anh Lê Văn Phúc, sinh viên, người cuối tháng 8/2026 đã bán tài khoản ngân hàng của mình cho một nhóm trên mạng với giá 500.000 đồng.
Kết luận: kẻ gọi điện dùng thủ đoạn gian dối khiến bà Hạnh tự chuyển tiền, nên phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự (200 – dưới 500 triệu đồng: tù 07–15 năm). Anh Phúc, nếu không biết mục đích phạm tội, bị phạt 5–10 triệu đồng về hành vi bán tài khoản và bị tịch thu số tiền liên quan (khoản 1, 7 Điều 14 Nghị định 330/2026/NĐ-CP); nếu chứng minh được anh biết tài khoản dùng để nhận tiền lừa đảo thì có thể bị xử lý đồng phạm. Bà Hạnh tố giác tại Công an phường; cơ quan điều tra có 20 ngày kiểm tra, xác minh, vụ phức tạp kéo dài tới 02 tháng và có thể gia hạn thêm 02 tháng (Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự). Bà có quyền yêu cầu buộc trả lại tiền ngay trong vụ án hình sự.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Chưa đến mức hình sự: Nghị định 330/2026/NĐ-CP (hiệu lực 19/8/2026) phạt cá nhân dùng danh tính giả, thông tin người khác mở tài khoản ngân hàng, ví điện tử 10–20 triệu đồng; lập trang web, tài khoản gây nhầm lẫn về chủ thể 20–30 triệu đồng; gửi tin nhắn, cuộc gọi, thư điện tử dùng tên cơ quan, tổ chức sai quy định 30–50 triệu đồng; dùng không gian mạng làm sai lệch thông tin tài khoản nhận tiền 50–70 triệu đồng (Điều 14). Tổ chức vi phạm bị phạt gấp đôi.
- Mua bán thông tin tài khoản ngân hàng của từ 20 tài khoản trở lên hoặc thu lợi từ 20 triệu đồng là tội theo Điều 291 Bộ luật Hình sự.
- Dữ liệu cá nhân bị lộ là đầu vào của lừa đảo có chủ đích. Tổ chức tài chính, ngân hàng phát hiện lộ dữ liệu nhạy cảm của khách phải thông báo cho cơ quan chuyên trách và chính khách hàng trong 72 giờ (khoản 3 Điều 8 Nghị định 356/2025/NĐ-CP).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: công an có thể yêu cầu chuyển tiền vào "tài khoản tạm giữ" để xác minh qua điện thoại. — Đúng: không có thủ tục tố tụng nào như vậy; tạm giữ tài sản phải có quyết định, biên bản theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Sai: chỉ cho mượn tài khoản, không lấy đồng nào của ai thì vô can. — Đúng: bản thân hành vi cho mượn, cho thuê tài khoản đã bị phạt; biết mà vẫn cho dùng có thể là đồng phạm.
- Sai: mất tiền vì tự chuyển nhầm cho kẻ lừa thì ngân hàng phải hoàn. — Đúng: giao dịch do chính chủ xác thực, ngân hàng thường không có lỗi; trách nhiệm chỉ đặt ra nếu ngân hàng vi phạm nghĩa vụ bảo mật, cảnh báo.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Cách gọi chung là online fraud hoặc cyber fraud; tội ở Điều 174 thường dịch fraudulent appropriation of property. Các thủ đoạn cụ thể: phishing (trang web, tin nhắn giả để lấy thông tin đăng nhập), impersonation scam (giả danh cơ quan, người quen), investment scam. Tài khoản thuê mướn để nhận tiền lừa đảo gọi là money mule account. Tránh dịch cả cụm thành cybercrime, vì đó là "tội phạm mạng" nói chung.
Thuật ngữ liên quan
- Tội phạm mạng — nhóm tội phạm lớn bao gồm lừa đảo qua mạng
- Chiếm đoạt tài sản — dấu hiệu chung của Điều 174 và Điều 290
- Tài khoản thanh toán — tài khoản bị thuê mướn để nhận tiền
- Người tố giác, báo tin về tội phạm — quyền của bị hại khi trình báo
- Định danh điện tử — thủ đoạn giả cán bộ "hỗ trợ định danh"
- Dữ liệu cá nhân — dữ liệu bị lộ giúp kẻ gian dựng kịch bản
Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, sửa đổi bởi Luật 12/2017/QH14, Luật 86/2025/QH15 — Điều 174, 290, 291.
- Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 (đã sửa đổi) — Điều 145, 147.
- Nghị định 330/2026/NĐ-CP (hiệu lực 19/8/2026) — Điều 7, 14.
- Nghị định 356/2025/NĐ-CP — khoản 3 Điều 8.
Hỏi đáp nhanh
Bị lừa chuyển khoản thì làm gì đầu tiên?
Gọi ngay tổng đài ngân hàng của mình để báo giao dịch gian lận và đề nghị phối hợp ngân hàng nhận tiền; chụp lại tin nhắn, lịch sử cuộc gọi, biên lai chuyển khoản, đường dẫn trang web. Sau đó làm đơn tố giác tại Công an cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan điều tra. Hành động trong vài giờ đầu quyết định khả năng tiền còn nằm lại trong tài khoản nhận.
Cho người khác thuê tài khoản ngân hàng lấy tiền công có bị xử lý không?
Có. Bán, cho thuê, cho mượn tài khoản ngân hàng, ví điện tử, tài khoản chứng khoán của mình bị phạt 5–10 triệu đồng và tịch thu số tiền liên quan (khoản 1, 7 Điều 14 Nghị định 330/2026/NĐ-CP). Biết tài khoản được dùng để nhận tiền lừa đảo mà vẫn cho dùng thì có thể bị xử lý hình sự với vai trò đồng phạm.
Số tiền bị lừa nhỏ, dưới 2 triệu đồng, có trình báo được không?
Được. Ngưỡng 2 triệu đồng là ngưỡng định tội ở khoản 1 Điều 174, nhưng dưới mức đó vẫn bị xử lý hình sự nếu người phạm tội đã từng bị xử phạt hoặc kết án về hành vi chiếm đoạt; còn hành vi theo Điều 290 không đặt mức tối thiểu. Ngoài ra kẻ lừa thường lừa nhiều người, tổng số tiền được cộng lại khi điều tra.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.