Trữ lượng khoáng sản là phần tài nguyên khoáng sản đã được thăm dò mà ở thời điểm đánh giá có thể khai thác với công nghệ, chi phí hiện có và vẫn có lãi. Đây là con số được cơ quan nhà nước công nhận, ghi vào giấy phép khai thác và làm căn cứ tính tiền cấp quyền, thiết kế mỏ, kiểm soát sản lượng.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Trữ lượng khoáng sản là phần tài nguyên khoáng sản đã được thăm dò, dự kiến có thể khai thác trong điều kiện kinh tế, kỹ thuật nhất định, mang lại hiệu quả kinh tế tại thời điểm đánh giá.
Khoản 30 Điều 2 Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 (hiệu lực 01/7/2025), sửa đổi bởi Luật số 147/2025/QH15. Khái niệm "tài nguyên khoáng sản" tại khoản 29 cùng điều.
Giải nghĩa dễ hiểu
Ba điều kiện để một khối khoáng sản được gọi là trữ lượng
- Đã thăm dò: được khoan, đào, lấy mẫu đến mức độ tin cậy theo đề án thăm dò; con số chỉ ước đoán từ điều tra khu vực mới là tài nguyên dự báo.
- Khai thác được về kỹ thuật: nằm trong ranh giới, độ sâu mà phương pháp khai thác dự kiến tiếp cận được.
- Có hiệu quả kinh tế tại thời điểm đánh giá: giá bán đổi, chi phí đổi thì trữ lượng có thể tăng hoặc giảm. Một thân quặng đồng nghèo hôm nay chỉ là tài nguyên, giá đồng tăng gấp đôi có thể được đánh giá lại thành trữ lượng.
Phân cấp và độ tin cậy
Theo khoản 29 Điều 2, tài nguyên khoáng sản được chia thành các cấp trữ lượng và cấp tài nguyên theo mức độ nghiên cứu địa chất, mức độ nghiên cứu khả thi và hiệu quả kinh tế. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định cụ thể việc phân cấp (khoản 6 Điều 50). Trên thực tế, báo cáo thăm dò dùng hệ mã ba chữ số dựa trên khung phân loại của Liên hợp quốc (UNFC), trong đó các cấp trữ lượng như 121, 122 là phần được đưa vào thiết kế khai thác, còn các cấp tài nguyên chưa đủ căn cứ để cấp phép khai thác.
Vòng đời của con số trữ lượng
- Công nhận sau thăm dò bởi Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh (Điều 51).
- Ghi vào giấy phép khai thác cùng công suất, thời hạn (khoản 2 Điều 56).
- Thống kê hằng năm phần đã khai thác, dựa trên sổ theo dõi, số liệu trạm cân hoặc thiết bị đo kết nối dữ liệu tự động, kết quả kê khai thuế tài nguyên, bản đồ hiện trạng (Điều 64; Điều 59 Nghị định 193/2025/NĐ-CP).
- Kiểm kê phần còn lại khi gia hạn, điều chỉnh, chuyển nhượng, trả lại giấy phép, đóng cửa mỏ.
Phân biệt trữ lượng khoáng sản với tài nguyên khoáng sản
| Tiêu chí | Trữ lượng khoáng sản | Tài nguyên khoáng sản |
|---|---|---|
| Căn cứ | Khoản 30 Điều 2 | Khoản 29 Điều 2 |
| Phạm vi | Một phần của tài nguyên | Toàn bộ lượng khoáng sản đã điều tra, thăm dò đạt yêu cầu tối thiểu |
| Hiệu quả kinh tế | Đã chứng minh tại thời điểm đánh giá | Chưa chắc chắn, có thể ở hiện tại hoặc tương lai |
| Dùng để | Cấp giấy phép khai thác, thiết kế mỏ, tính tiền cấp quyền | Lập quy hoạch, định hướng thăm dò tiếp, khoanh khu vực dự trữ |
| Thay đổi | Giảm dần theo sản lượng khai thác, có thể nâng cấp bằng thăm dò bổ sung | Có thể chuyển thành trữ lượng khi thăm dò thêm hoặc điều kiện kinh tế thay đổi |
Ví dụ tình huống
Tình huống 1. Công ty Vật liệu Phú Thành được cấp giấy phép thăm dò đá xây dựng 1,5 km² tại tỉnh Đồng Nai, giấy phép hết hạn ngày 15/4/2026. Ngày 10/9/2026 công ty nộp đủ hồ sơ đề nghị công nhận kết quả thăm dò — vẫn trong hạn 06 tháng. Chủ tịch UBND tỉnh công nhận trữ lượng cấp 121 và 122 là 4,2 triệu m³ ngày 20/11/2026. Kể từ ngày này công ty có 18 tháng (đá xây dựng là nhóm III) để nộp hồ sơ xin giấy phép khai thác với quyền ưu tiên; quá hạn mà không có lý do bất khả kháng thì mất quyền ưu tiên (Điều 48).
Tình huống 2. Giấy phép khai thác của công ty ghi trữ lượng được phép khai thác 3 triệu m³, công suất 150.000 m³/năm. Năm 2027 công ty nộp tiền cấp quyền theo thông báo tính trên trữ lượng trong giấy phép; cuối kỳ, nếu số liệu trạm cân và kê khai thuế tài nguyên cho thấy chỉ khai thác 120.000 m³ thì tiền cấp quyền được quyết toán theo sản lượng thực tế. Nếu khai thác vượt 150.000 m³ là vượt công suất cấp phép, bị xử phạt và có thể bị truy thu.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Thăm dò bổ sung để nâng cấp trữ lượng trong khu vực đang khai thác phải lập đề án, được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước và được công nhận kết quả; từ 01/01/2027 người chấp thuận là Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
- Khoáng sản nhóm IV không bắt buộc thăm dò; thay vào đó là khảo sát, đánh giá thông tin chung, giấy phép ghi khối lượng chứ không phải trữ lượng được công nhận (Điều 73).
- Khoáng sản đi kèm phát hiện khi khai thác phải báo cáo, được thăm dò, tính trữ lượng và có thể bổ sung vào giấy phép.
- Nước khoáng, nước nóng thiên nhiên tính theo lưu lượng (m³/ngày đêm) thay vì khối lượng.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: trữ lượng là toàn bộ khoáng sản có trong mỏ. — Đúng: trữ lượng chỉ là phần khai thác được có hiệu quả; phần còn lại là tài nguyên, có thể không bao giờ được khai thác.
- Sai: trữ lượng ghi trong giấy phép là cố định. — Đúng: nó giảm theo sản lượng và có thể được điều chỉnh khi thăm dò bổ sung; số liệu kiểm kê là căn cứ cho mọi thủ tục gia hạn, chuyển nhượng.
- Sai: thống kê trữ lượng là việc nội bộ doanh nghiệp. — Đúng: đây là nghĩa vụ pháp lý, doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực; số liệu được đối chiếu với kê khai thuế tài nguyên và dữ liệu trạm cân.
- Sai: báo cáo thăm dò do đơn vị tư vấn ký là đủ để xin giấy phép khai thác. — Đúng: phải có quyết định công nhận kết quả thăm dò của cơ quan có thẩm quyền.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Mineral reserves (trữ lượng) đối lập với mineral resources (tài nguyên) — cách chia này giống các bộ quy tắc báo cáo quốc tế như JORC, NI 43-101. Trữ lượng có thể chia thành proved reserves và probable reserves, nhưng không nên ghép máy móc với cấp 121, 122 của Việt Nam vì tiêu chí không trùng khớp hoàn toàn. Tránh dịch trữ lượng là deposit: chữ này chỉ mỏ hoặc thân khoáng, không phải con số được công nhận.
Thuật ngữ liên quan
- Thăm dò khoáng sản — hoạt động tạo ra số liệu trữ lượng.
- Khoáng sản — đối tượng được đánh giá trữ lượng.
- Giấy phép khai thác khoáng sản — ghi trữ lượng được phép khai thác.
- Tiền cấp quyền khai thác khoáng sản — tính theo trữ lượng, quyết toán theo sản lượng.
- Thuế tài nguyên — số liệu kê khai dùng để đối chiếu thống kê trữ lượng.
- Đóng cửa mỏ khoáng sản — phải kiểm kê trữ lượng còn lại.
Căn cứ pháp lý
- Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15, sửa đổi bởi Luật số 147/2025/QH15, Điều 2, 48, 50, 51, 56, 64, 99 — còn hiệu lực; Điều 51 được sửa đổi bởi Luật số 21/2026/QH16 từ 01/01/2027.
- Nghị định 193/2025/NĐ-CP, Điều 49–54, 59 — còn hiệu lực, sửa đổi bởi Nghị định 21/2026/NĐ-CP.
Hỏi đáp nhanh
Ai công nhận trữ lượng khoáng sản sau khi thăm dò?
Hiện nay, Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia công nhận với khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Chủ tịch UBND cấp tỉnh công nhận với khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của mình (Điều 51). Từ 01/01/2027, theo Luật số 21/2026/QH16, Hội đồng chỉ còn công nhận khoáng sản nhóm I (trừ khu vực phân tán, nhỏ lẻ) và khoáng sản ở vùng biển ngoài ranh giới tỉnh; phần còn lại do Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Giấy phép thăm dò hết hạn rồi mới nộp báo cáo trữ lượng có được không?
Được, nhưng phải hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận trong 06 tháng kể từ ngày giấy phép thăm dò hết hạn. Quá hạn mà chưa nộp đủ thì mất quyền đề nghị công nhận, trừ bất khả kháng; nếu khu vực sau đó cấp phép cho người khác, người thăm dò trước không được hoàn trả chi phí (khoản 3, 4 Điều 50).
Tiền cấp quyền khai thác tính theo trữ lượng hay theo sản lượng thực tế?
Tính theo trữ lượng hoặc khối lượng được phép khai thác ghi trong giấy phép, thu theo năm, nhưng được quyết toán theo sản lượng khai thác thực tế (Điều 99 Luật Địa chất và khoáng sản 2024). Vì vậy số liệu thống kê sản lượng hằng năm ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền phải nộp. Xem tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.
Khi nào doanh nghiệp phải kiểm kê trữ lượng còn lại?
Khi đề nghị gia hạn, điều chỉnh, chuyển nhượng, trả lại giấy phép khai thác và khi đóng cửa mỏ (khoản 1 Điều 64). Ngoài ra phải thống kê trữ lượng đã khai thác hằng năm theo kỳ 01/01–31/12, gửi kèm báo cáo định kỳ hoạt động khoáng sản.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.