Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất là nghĩa vụ kéo dài trách nhiệm của doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu tới giai đoạn sản phẩm, bao bì đã thành rác: hoặc tự tổ chức tái chế theo tỷ lệ bắt buộc, hoặc đóng tiền vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ tái chế; với sản phẩm khó tái chế thì đóng góp tài chính hỗ trợ xử lý chất thải. Thường gọi tắt là EPR.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế phải thực hiện tái chế theo tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc, trừ các sản phẩm, bao bì xuất khẩu hoặc tạm nhập, tái xuất hoặc sản xuất, nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm.
Khoản 1 Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 (hiệu lực 01/01/2022); Điều 55 quy định trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải; chi tiết tại Nghị định 110/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 (hiệu lực 25/5/2026)
Luật không dùng cụm "trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất"; Nghị định 110/2026/NĐ-CP gọi chung hai trách nhiệm ở Điều 54, 55 là EPR (Điều 1) và thay Chương VI Nghị định 08/2022/NĐ-CP.
Giải nghĩa dễ hiểu
Hai nghĩa vụ khác nhau
- Trách nhiệm tái chế (Điều 54): áp dụng cho sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế ở Phụ lục I — bao bì giấy, kim loại, nhựa, thủy tinh; ắc quy, pin sạc; dầu nhớt; săm lốp; thiết bị điện – điện tử; tấm quang năng; từ 01/01/2027 thêm phương tiện giao thông đường bộ.
- Trách nhiệm hỗ trợ xử lý chất thải (Điều 55): áp dụng cho sản phẩm chứa chất độc hại, khó tái chế ở Phụ lục II — bao bì thuốc bảo vệ thực vật, pin dùng một lần, tã bỉm, kẹo cao su, thuốc lá, nhiều sản phẩm có thành phần nhựa. Chỉ có một cách là đóng tiền.
Bao bì nào thuộc diện
Bao bì thương phẩm (cả bao bì trực tiếp và bao bì ngoài) của thực phẩm (trừ kẹo cao su), mỹ phẩm, thuốc, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, chất tẩy rửa và chế phẩm vệ sinh, xi măng (khoản 2 Điều 4).
Tỷ lệ tái chế bắt buộc tiêu biểu (Phụ lục I)
| Nhóm | Tỷ lệ | Nhóm | Tỷ lệ |
|---|---|---|---|
| Bao bì giấy, carton | 20% | Bao bì nhôm | 22% |
| Bao bì PET cứng | 22% | Bao bì nhựa mềm | 10% |
| Bao bì thủy tinh | 15% | Ắc quy chì | 12% |
| Dầu nhớt động cơ | 15% | Săm, lốp cao su | 05% |
| Điện thoại di động | 15% | Tấm quang năng | 03% |
Tỷ lệ điều chỉnh tăng 03 năm một lần, mỗi lần cộng thêm không quá 10%, lần đầu năm 2029 (khoản 2 Điều 5). Tái chế vượt tỷ lệ được bảo lưu phần chênh cho năm sau; mỗi nhóm sản phẩm chỉ chọn một hình thức thực hiện.
Hai cách thực hiện trách nhiệm tái chế
- Tự tổ chức tái chế: tự làm, hợp đồng với đơn vị tái chế, ủy quyền cho đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế (PRO), hoặc kết hợp. Đơn vị tái chế phải có giấy phép môi trường hoặc giấy phép môi trường thành phần phù hợp; PRO không được ủy quyền lại. Phải đăng ký kế hoạch và báo cáo kết quả tái chế của năm liền trước qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia trước ngày 01/4 hằng năm.
- Đóng góp tài chính: F = R × V × Fs, trong đó R là tỷ lệ tái chế bắt buộc, V là khối lượng (kg) đưa ra thị trường, Fs là mức đóng góp cho mỗi kg do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành. Kê khai trước 01/4, nộp trước 20/4 hằng năm vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (Điều 8).
Phân biệt trách nhiệm tái chế với trách nhiệm hỗ trợ xử lý chất thải
| Tiêu chí | Trách nhiệm tái chế | Hỗ trợ xử lý chất thải |
|---|---|---|
| Căn cứ | Điều 54 Luật BVMT; Chương II, Phụ lục I NĐ 110/2026 | Điều 55 Luật BVMT; Chương III, Phụ lục II NĐ 110/2026 |
| Đối tượng | Sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế | Sản phẩm chứa chất độc hại, khó tái chế |
| Cách thực hiện | Tự tái chế hoặc đóng góp tài chính | Chỉ đóng góp tài chính |
| Mức tiền | F = R × V × Fs | Mức cố định theo cái, theo kg nhựa hoặc 1% doanh thu thuần |
| Tiền dùng vào | Hỗ trợ đơn vị tái chế theo cơ chế đề xuất cạnh tranh | Phân bổ cho UBND cấp tỉnh xử lý rác sinh hoạt, bao bì thuốc bảo vệ thực vật |
| Chu kỳ điều chỉnh | 03 năm, lần đầu 2029 | 05 năm, lần đầu 2031 |
Ví dụ tình huống
Công ty Nước giải khát Sông Xanh có doanh thu 120 tỷ đồng/năm, năm 2026 đưa ra thị trường 500 tấn chai PET và 80 tấn thùng carton. Vì doanh thu trên 30 tỷ đồng, công ty phải thực hiện trách nhiệm tái chế cho cả hai nhóm. Với chai PET, công ty chọn hợp đồng với một nhà máy tái chế có giấy phép môi trường để tái chế 110 tấn (22% của 500 tấn) thành hạt nhựa thương phẩm — sản phẩm băm thành mảnh nhựa hay làm nhiên liệu đốt không được tính. Với thùng carton, công ty chọn đóng góp tài chính: F = 20% × 80.000 kg × Fs. Trước ngày 01/4/2027, công ty kê khai qua Hệ thống thông tin EPR quốc gia và đăng ký kế hoạch tái chế cho chai PET; trước 20/4/2027 nộp tiền đóng góp cho phần carton.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Không phải thực hiện: sản phẩm, bao bì xuất khẩu, tạm nhập tái xuất, phục vụ nghiên cứu, học tập, thử nghiệm; doanh thu nhóm sản phẩm dưới 30 tỷ đồng/năm; nhà sản xuất tự thu hồi bao bì để đóng gói lại với tỷ lệ bằng hoặc cao hơn tỷ lệ bắt buộc (khoản 3 Điều 4).
- Không được tính vào kết quả tái chế: phế liệu nhập khẩu, bao bì là chất thải công nghiệp, sản phẩm lỗi thải loại trong sản xuất (khoản 3 Điều 5).
- Đơn vị nhận hỗ trợ tái chế phải có báo cáo được kiểm toán độc lập (kiểm toán phi tài chính); tái chế không đủ khối lượng thì chỉ nhận tiền tương ứng và bị cấm đề nghị hỗ trợ trong 05 năm (Điều 14, 15).
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: EPR là một loại thuế mới. — Đúng: đây là nghĩa vụ tái chế theo Luật BVMT; khoản đóng góp vào Quỹ không phải thuế và chỉ được dùng hỗ trợ tái chế, xử lý chất thải.
- Sai: nhà phân phối, siêu thị phải thực hiện EPR. — Đúng: nghĩa vụ thuộc nhà sản xuất, nhập khẩu (người chịu trách nhiệm ghi nhãn); nhà bán lẻ chỉ là bên nhận hàng.
- Sai: vẫn áp dụng tỷ lệ, mức Fs theo Nghị định 08/2022 cho năm 2026. — Đúng: từ năm 2026 áp dụng Nghị định 110/2026/NĐ-CP; quy định cũ chỉ còn cho các năm từ 2025 trở về trước.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Extended Producer Responsibility (EPR) — thuật ngữ do OECD phổ biến, được Nghị định 110/2026/NĐ-CP dùng chính thức làm tên viết tắt. Đơn vị tổ chức trách nhiệm tái chế là Producer Responsibility Organization (PRO). Tỷ lệ tái chế bắt buộc là mandatory recycling rate; "đưa ra thị trường" tương đương placing on the market trong văn bản EU.
Thuật ngữ liên quan
- Tái chế chất thải — hoạt động mà EPR buộc nhà sản xuất chi trả.
- Chất thải — sản phẩm, bao bì sau tiêu dùng.
- Xử lý chất thải — được hỗ trợ từ khoản đóng góp theo Điều 55.
- Giấy phép môi trường — điều kiện của đơn vị tái chế.
- Giấy phép môi trường thành phần — vẫn được chấp nhận với đơn vị tái chế khi còn hiệu lực.
- Phí bảo vệ môi trường — khoản thu khác bản chất, dễ nhầm với đóng góp EPR.
Căn cứ pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, Điều 54, 55 (sửa đổi bởi Luật số 146/2025/QH15) — còn hiệu lực.
- Nghị định 110/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 quy định chi tiết trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu — hiệu lực 25/5/2026.
- Nghị định 08/2022/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 05/2025/NĐ-CP), Chương VI — đã bị bãi bỏ, chỉ áp dụng cho nghĩa vụ các năm từ 2025 trở về trước.
Hỏi đáp nhanh
Doanh nghiệp nhỏ bán thực phẩm đóng gói có phải thực hiện EPR không?
Nhà sản xuất, nhập khẩu có tổng doanh thu từ các sản phẩm có bao bì thuộc diện tái chế (thực phẩm, mỹ phẩm, thuốc, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, chất tẩy rửa, xi măng) dưới 30 tỷ đồng/năm thì không phải thực hiện trách nhiệm tái chế (điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP). Ngưỡng 30 tỷ đồng cũng áp dụng cho nghĩa vụ đóng góp hỗ trợ xử lý chất thải (điểm b khoản 3 Điều 9).
Thuê gia công sản phẩm mang nhãn hiệu của mình thì ai chịu EPR?
Bên đặt gia công. Trường hợp cùng nhãn hiệu sản xuất ở nhiều nơi thì tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa là người thực hiện; ủy thác nhập khẩu thì người chịu trách nhiệm ghi nhãn là người thực hiện (khoản 1 Điều 4 Nghị định 110/2026/NĐ-CP). Công ty mẹ được ủy quyền thực hiện thay công ty con, chi nhánh hạch toán độc lập.
Năm 2025 trở về trước tính theo quy định nào?
Trách nhiệm tái chế và trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải của các năm từ 2025 trở về trước vẫn thực hiện theo Nghị định 08/2022/NĐ-CP đã sửa đổi bởi Nghị định 05/2025/NĐ-CP (khoản 1 Điều 23 Nghị định 110/2026/NĐ-CP). Quy định mới áp dụng cho sản phẩm, bao bì đưa ra thị trường từ năm 2026.
Thuốc lá, tã bỉm, đồ nhựa dùng một lần phải đóng góp bao nhiêu?
Theo Phụ lục II Nghị định 110/2026/NĐ-CP: thuốc lá điếu 60 đồng/20 điếu; pin dùng một lần, tã lót, bỉm, băng vệ sinh, khăn ướt dùng một lần, kẹo cao su 1% doanh thu thuần; sản phẩm nhựa dùng một lần như hộp, ly, ống hút, màng bọc thực phẩm 1.500 đồng/kg nhựa sử dụng; bao bì thuốc bảo vệ thực vật từ 20 đến 250 đồng/cái tùy loại. Mức này điều chỉnh 05 năm một lần, mỗi lần không quá 15%, lần đầu năm 2031.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.