Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài, do cả tự nhiên lẫn hoạt động của con người, biểu hiện qua nóng lên toàn cầu, nước biển dâng và thời tiết cực đoan gia tăng. Về pháp lý, nó kéo theo nghĩa vụ kiểm kê, giảm phát thải khí nhà kính, lồng ghép vào quy hoạch và báo cáo định kỳ.
Định nghĩa theo văn bản pháp luật
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người, biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan.
Khoản 13 Điều 3 Luật Khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13 (hiệu lực từ 01/7/2016; văn bản hợp nhất số 167/VBHN-VPQH năm 2026)
Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 không định nghĩa lại thuật ngữ này mà dành riêng Chương VII (Điều 90 đến Điều 96) cho việc ứng phó với biến đổi khí hậu, gồm hai trụ cột: thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (khoản 32 Điều 3).
Giải nghĩa dễ hiểu
Ba dấu hiệu luật nêu đích danh
- Nóng lên toàn cầu — nhiệt độ trung bình tăng dần qua nhiều thập kỷ, không phải một mùa hè nóng bất thường.
- Nước biển dâng — đặc biệt hệ trọng với đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh ven biển, nơi đất ở, đất lúa có thể bị ngập hoặc nhiễm mặn.
- Gia tăng hiện tượng cực đoan — bão mạnh, mưa lớn dị thường, hạn hán, xâm nhập mặn với tần suất và cường độ cao hơn.
Chữ then chốt là "khoảng thời gian dài": một cơn bão là thời tiết, xu thế của bão qua hàng chục năm mới là khí hậu. Phân biệt này quyết định chuyện một sự kiện có được coi là bất khả kháng hay không.
Hai hướng ứng phó trong Luật Bảo vệ môi trường
- Thích ứng (Điều 90) — tăng khả năng chống chịu: đánh giá rủi ro, tổn thất; mô hình dựa vào cộng đồng và hệ sinh thái; chống ngập đô thị. Từ 01/01/2026, Kế hoạch quốc gia thích ứng rà soát 05 năm một lần và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành tiêu chí đánh giá rủi ro khí hậu (Điều 90 sửa bởi Luật số 146/2025/QH15).
- Giảm nhẹ (Điều 91, 139) — kiểm kê khí nhà kính định kỳ 02 năm một lần với cơ sở thuộc danh mục, kế hoạch giảm phát thải hằng năm, phân bổ hạn ngạch và thị trường các-bon trong nước. Chi tiết xem mục khí nhà kính.
Nhà nước phải làm gì
Luật buộc lồng ghép kịch bản và giải pháp ứng phó vào chiến lược, quy hoạch (Điều 93); lập cơ sở dữ liệu quốc gia (Điều 94); báo cáo quốc gia 05 năm một lần trình Quốc hội (Điều 95); cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định và Báo cáo minh bạch 02 năm một lần (Điều 96). Đầu mối là Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Phân biệt biến đổi khí hậu với thiên tai và ô nhiễm môi trường
| Tiêu chí | Biến đổi khí hậu | Thiên tai | Ô nhiễm môi trường |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Xu thế thay đổi khí hậu dài hạn | Hiện tượng tự nhiên bất thường, cụ thể (bão, lũ, sạt lở) | Thành phần môi trường bị biến đổi vượt quy chuẩn, tiêu chuẩn |
| Văn bản chính | Luật Khí tượng thủy văn; Chương VII Luật BVMT 2020 | Luật Phòng, chống thiên tai | Luật BVMT 2020 (khoản 12 Điều 3) |
| Xác định được người gây ra? | Không, là kết quả tích lũy toàn cầu | Không | Thường xác định được nguồn thải |
| Trách nhiệm bồi thường | Không có chủ thể phải bồi thường | Không; Nhà nước hỗ trợ khắc phục | Người gây ô nhiễm phải bồi thường, khắc phục (khoản 6 Điều 4 Luật BVMT) |
Ví dụ tình huống
Tình huống 1 — hợp đồng giao lúa. Ngày 05/3/2026, Công ty Phú An ký hợp đồng mua 800 tấn lúa của Hợp tác xã Tân Thành (tỉnh Cà Mau), giao trước 30/5/2026. Tháng 4 xâm nhập mặn làm hợp tác xã chỉ thu 500 tấn và xin miễn trách nhiệm vì "biến đổi khí hậu". Nhưng dự báo mặn đã được công bố từ đầu mùa khô và hiện tượng lặp lại nhiều năm, nên khó coi là sự kiện "không thể lường trước" (khoản 1 Điều 156 BLDS). Hợp tác xã nhiều khả năng vẫn chịu phạt vi phạm và bồi thường phần 300 tấn thiếu, trừ khi chứng minh mức mặn vượt xa mọi dự báo.
Tình huống 2 — quy hoạch ven biển. Hồ sơ điều chỉnh quy hoạch tỉnh K. mở rộng đô thị trên vùng đất trũng ven biển mà không phân tích kịch bản nước biển dâng. Hội đồng thẩm định yêu cầu bổ sung, vì Điều 93 Luật BVMT bắt buộc dùng kịch bản biến đổi khí hậu khi xác định mục tiêu dài hạn của quy hoạch.
Áp dụng trong thực tế và ngoại lệ
- Với người dân: không có quyền khởi kiện trực tiếp vì biến đổi khí hậu; quyền có thật là góp ý khi lập quy hoạch, tiếp cận thông tin cảnh báo, được hỗ trợ khi thiên tai.
- Với doanh nghiệp thuộc danh mục phát thải (cơ sở phát thải lớn thuộc các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, xây dựng, quá trình công nghiệp, chất thải… theo danh mục của Thủ tướng, hiện là Quyết định 13/2024/QĐ-TTg): phải kiểm kê, xây dựng kế hoạch giảm phát thải, báo cáo; ba ngành nhiệt điện, sắt thép, xi măng đã được thí điểm phân bổ hạn ngạch từ giai đoạn 2025–2026 theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP sửa đổi bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP.
Những chỗ hay hiểu sai
- Sai: Việt Nam chưa có luật về biến đổi khí hậu. — Đúng: chưa có luật mang tên riêng, nhưng Chương VII Luật BVMT 2020, Luật Khí tượng thủy văn và Nghị định 06/2022/NĐ-CP (sửa đổi 2025) đã điều chỉnh khá đầy đủ.
- Sai: mọi thiệt hại do thời tiết đều là bất khả kháng vì "biến đổi khí hậu". — Đúng: phải xét từng sự kiện cụ thể có lường trước được không; xu thế khí hậu đã được cảnh báo thì khó viện dẫn.
- Sai: biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí là một. — Đúng: bụi mịn gây ô nhiễm cục bộ, xử lý bằng quy chuẩn khí thải; CO2 không độc ở nồng độ thông thường nhưng làm nóng lên toàn cầu, xử lý bằng kiểm kê và hạn ngạch.
- Sai: trách nhiệm ứng phó chỉ thuộc về Nhà nước. — Đúng: khoản 7 Điều 91 Luật BVMT đặt nghĩa vụ trực tiếp cho cơ sở phát thải thuộc danh mục; vi phạm có thể bị xử phạt và bị trừ hạn ngạch kỳ sau.
Thuật ngữ tiếng Anh tương đương
Climate change là cách dịch chuẩn. Nên tránh dùng global warming như từ đồng nghĩa: nóng lên toàn cầu chỉ là một biểu hiện. Hai trụ cột ứng phó là adaptation (thích ứng) và mitigation (giảm nhẹ). "Đóng góp do quốc gia tự quyết định" là Nationally Determined Contribution (NDC); Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu là UNFCCC; Thỏa thuận Paris là Paris Agreement. "Kịch bản biến đổi khí hậu" thường dịch là climate change scenario.
Thuật ngữ liên quan
- Khí nhà kính — nguyên nhân chính của biến đổi khí hậu, đối tượng kiểm kê và hạn ngạch.
- Phát triển bền vững — mục tiêu mà ứng phó biến đổi khí hậu phục vụ.
- Phòng, chống thiên tai — khung pháp lý cho hiện tượng cực đoan cụ thể.
- Bảo vệ môi trường — luật gốc chứa Chương VII về ứng phó biến đổi khí hậu.
- Năng lượng tái tạo — giải pháp giảm phát thải trong ngành năng lượng.
- Ô nhiễm môi trường — khái niệm dễ nhầm, có người gây ra và phải bồi thường.
Căn cứ pháp lý
- Luật Khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13, khoản 13–15 Điều 3, Điều 36; văn bản hợp nhất số 167/VBHN-VPQH năm 2026 — còn hiệu lực.
- Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, khoản 29–35 Điều 3, Điều 90–96, Điều 139; sửa đổi bởi Luật số 146/2025/QH15 (hiệu lực 01/01/2026); văn bản hợp nhất số 98/VBHN-VPQH năm 2026 — còn hiệu lực.
- Nghị định 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, sửa đổi bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP (hiệu lực 01/8/2025) — còn hiệu lực.
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, Điều 156 (sự kiện bất khả kháng), Điều 584 — còn hiệu lực.
Hỏi đáp nhanh
Lũ lụt, hạn mặn do biến đổi khí hậu làm hỏng nhà, mất mùa thì có kiện được ai bồi thường không?
Thường là không. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đòi phải chỉ ra người có hành vi trái luật và mối quan hệ nhân quả với thiệt hại (Điều 584 BLDS). Thiệt hại do thiên tai, xu thế khí hậu không gắn với một chủ thể cụ thể. Khác với trường hợp một nhà máy xả thải làm chết cá — khi đó có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường. Người dân nên dựa vào chính sách hỗ trợ khắc phục thiên tai của địa phương và bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tài sản.
Doanh nghiệp nhỏ có phải làm gì về biến đổi khí hậu không?
Nghĩa vụ bắt buộc như kiểm kê khí nhà kính, xây dựng kế hoạch giảm phát thải chỉ áp dụng cho cơ sở thuộc danh mục do Thủ tướng ban hành (khoản 3, khoản 7 Điều 91 Luật BVMT). Doanh nghiệp nhỏ không trong danh mục thì không phải kiểm kê, nhưng vẫn chịu các nghĩa vụ môi trường chung và ngày càng bị khách hàng xuất khẩu yêu cầu số liệu phát thải theo chuỗi cung ứng — đó là yêu cầu hợp đồng, không phải nghĩa vụ luật Việt Nam.
Có thể viện dẫn biến đổi khí hậu để xin lùi hạn giao hàng theo hợp đồng không?
Không thể viện dẫn chung chung. Sự kiện bất khả kháng phải khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết (khoản 1 Điều 156 BLDS). Một cơn bão cụ thể có thể đáp ứng; còn xu thế nắng nóng, triều cường lặp lại hằng năm thì bên có kinh nghiệm phải lường trước. Cách an toàn là ghi rõ trong hợp đồng các sự kiện thời tiết cực đoan được coi là bất khả kháng và nghĩa vụ thông báo kèm thời hạn.
Kịch bản biến đổi khí hậu do ai ban hành và dùng vào việc gì?
Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học về xu hướng khí hậu tương lai (khoản 15 Điều 3 Luật Khí tượng thủy văn), do Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng, cập nhật theo các thời kỳ. Nó được dùng làm đầu vào bắt buộc khi lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch (Điều 93 Luật BVMT), ví dụ xác định cao độ nền, hệ thống thoát nước của quy hoạch đô thị ven biển.
Lưu ý: Bài viết tổng hợp quy định đang có hiệu lực tại thời điểm đăng và chỉ mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi; vui lòng đối chiếu bản mới nhất hoặc trao đổi với luật sư trước khi quyết định.